1. Chào mừng Khách đến với svphatdiem.com phiên bản mới
    Hỗ trợ trực tuyến
                   
    Hotline: 0979.903.200

Cuộc đời chúa Giesu

Thảo luận trong 'Giáo lý - Sứ điệp - Tín lý' bắt đầu bởi khiradi, 10/12/10.

  1. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Cuộc Đời Chúa Cứu Thế Giêsu

    [​IMG]
    Cuộc Ðời Chúa Cứu Thế Giêsu
    Một Thiên truyện ly lỳ.

    Một hài nhi Do Thái, sinh trong động đá Bê Lem, oe oe khóc giữa đêm đông giá lạnh, vừa mới chào đời được mấy hôm, đã bị truy nã như một tên hoán nghịch, cha mẹ phải ẵm vào rừng, lén lút trốn sang nước ngoài trú ẩn!
    Cơn giông tố đã qua, hài nhi trở lại quê nhà, lớn lên trong khung cảnh một gia đình thợ mộc, làm quen với mảnh cưa súc gỗ, ban ngày đem mồ hôi đổi lấy bánh nuôi thân, tối đến đặt mình trên manh chiếu ngủ cho qua đêm, để hôm sau tra tay làm việc cũ.
    Trong bao nhiên năm như vậy, GIÊSU đã sống một đời bình dân như muôn đời bình dân khác. Tuy nhiên đời bình dân ấy, ngay lúc chớm nở, đã thấp thoáng ánh diệu kỳ: Có Thiên Thần ca hát trước hang, có vương khách từ phương xa đến bái yết. Tới lúc ba mươi tuổi, Ngài tung ra từng loạt việc dị thường. Ngài dọc ngang đây đó, khi đỉnh núi, lúc ghềnh sông, rảo khắp thôn quê tới thành thị, tuyên bố những lời lẽ chưa thấy trong triết học, giảng thuyết những luật các nhà luân lý chuyên khoa chưa nghĩ đến. Ngài xưng mình là “Tiên Tri” là “Sứ Giả của Trời” là “Vị Cứu Tinh” và hơn nữa là “Con Thiên Chúa”. Ðồng thời từng trăm nghìn phép lạ ở tay Ngài rơi xuống: Ngài cho kẻ què đi, kẻ điếc nghe, kẻ câm nói, kẻ chết sống lại !... Ðạo lý cao siêu với những việc dị thường ấy lôi cuốn dân đi theo, nhiều người xin làm môn đệ, cam kết với Ngài: Một lòng trung tín sống thác không rời.
    Nhưng đột nhiên, thiên hạ phải bỡ ngỡ hoang mang, vì Ngài bị bắt, bị tra khảo, bị vùi dập dưới những cực hình nhuốc hổ, rồi bị giết thảm thương trên Thập Giá!
    Nhiều người đã tưởng Ngài bại trận, đời tiên tri và cứu thế của Ngài mất hút trong đau thương. Nhưng đoàn Môn Ðệ lại nhận Ngài là đắc thắng, một cuộc đắc thắng kỳ diệu của mãnh lực tình yêu. Và hơn nữa, tin Ngài là Thiên Chúa, các ông đã lặn lội khắp nơi lao mình vào đau khổ, đem hết máu đào ra minh chứng đạo lý và sứ mệnh của Ngài, khiến người trong muôn nước, từ vua quan đến thứ dân, phải tin nhận Ngài là Thiên Chúa, sấp mình thờ lạy và chúc tụng Ngài là vị cứu tinh thế giới.


    • [*] Ngài chết đi rồi sống lại.
      [*] Ngài sống lại rồi lên Trời.
      [*] Ngài chính là Chúa Trời giáng thế.
    Xưa nay bao nhiêu khối óc thông minh đã khảo cứu đời Ngài, đều phải công nhận như vậy. Và từ lâu đều công nhận đó là Ánh Sáng của đời tôi. Tôi đã theo và nhận Ngài là con đường hạnh phúc đích thực. Nhờ Ngài, đời tôi đã chất chứa những ngày vui. Bởi vậy hôm nay trước bàn thờ kính ái, thắp nén hương lòng, lau ngòi bút tục, tôi chép lại lịch sử trần gian của Ngài, để cảm tạ Ngài đã hướng dẫn trong đời sống, và để đồng bào yêu quí của tôi hiểu rõ thân thế Ngài hơn, hầu có thể kiểm nhận Lời Ngài nói: “Ta là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống “
    Lm Lâm Quang Trọng
    (
    Diệp Hải Dung sưu tầm)
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
    phero D and hoabanmai258 like this.
  2. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    PHẦN THỨ IQuãng Ðời Mai Ẩn - Bà Sẽ Sinh Một Con Trai
    Jêrusalem, châu thành hoa lệ của xứ Balêtin (Palestine) Một trong những điểm kỳ quan nhất thành này là tòa nhà cao ngất. Ðó là Thánh đường nguy nga, nằm duỗi trên những dẫy cột đồ sộ bằng cẩm thạch muôn màu óng ả, lác đát dát bằng vàng và ôm ấp cái đỉnh lâu cũng bằng vàng.
    Cung điện quí giá đó, toàn dân coi là nơi cực linh thiêng, khói hương phải luôn luôn nghi ngút bên cạnh những hàng nến sáng, để tượng trưng lòng trung thành và tôn kính vô biên.
    Trong thâm cung đền Thánh đó, chìm mờ trong ánh sáng vàng nhạt một gian nhà hình chữ nhật, dài 20 thước tây, rộng 10 thước. Gian nhà đặc biệt này quen gọi là Cung Thánh. Ở giữa Cung Thánh nổi lên một bàn thờ phủ bằng vàng. Bên hữu bàn thờ, có một chân nến vàng 7 ngọn cung kính đứng đối diện với cái bàn nhỏ dát vàng bên kia, trên đó có 12 chiếc bánh tế không men, biểu hiệu 12 đại tộc Do Thái.
    Cung Thánh là nơi tôn nghiêm thánh thiện. Chỉ có vị chủ tế được vào mỗi ngày 2 lần để dâng hương, ngoài ra không ai được lai vãng đến.
    Theo tục lệ dân, trong 12 đại tộc Do Thái, chỉ có đại tộc Lêvi được đặc quyền chủ việc tế lễ. Nhưng thời gian qua, số người trong đại tộc Lêvi đã nhân thừa ra nhiều và phân ra nhiều chi tộc khác nhau, mỗi chi tộc lại chia ra làm tiểu tộc. Có thời kỳ, nguyên một chi tộc ông Aarong (Aaron) đã gồm 24 tiểu tộc, và mỗi tiểu tộc có từ 2000 đến 3000 người. Như vậy một thầy đạo trưởng trong suốt đời của ngài, có lẽ chỉ được chủ tế một lần là hết sức. Nên lần đó thầy rất lấy làm vinh hạnh và thường cảm động vô biến.
    ***
    Thời gian thấm thoát.... Ðột nhiên đã đến lượt tiểu tộc Abia đóng vai chủ tế. Và một ông già lẫm liệt uy phong đã được trúng cử dâng hương trong đền Thánh.
    Ðó là ông già Giacaria (Zacharia) Ông đã kết nghĩa sắt cầm với bà Ysave (Elizabeth) một quí nhân thuộc dòng tộc Aarong làm thầy thượng phẩm từ đời ông Môi Sen (Mose)
    Hai ông bà cùng hợp duyên hợp tính, sống với nhau trong tình kính Chúa ái nhân và thi nhau giữ lề luật Chúa cách cẩn thận tỉ mỉ không ai bắt bẻ được. Nên hai ông bà được Thánh Kinh khen là lương thiện và công chính. Nhưng trong cảnh thanh bình, vợ chồng hòa thuận, một vẻ buồn như vấn vương ngày đêm, vì hai ông bà đã cao tuổi mà con cái vẫn hiếm! Bà Ysave hằng ao ước nhưng không được diễm phúc làm mẹ. Thế mà theo quan niệm Do Thái, tủi thay những cặp vợ chồng không con! Những cặp vợ chồng không may ấy đáng khổ nhục, vì thiếu kẻ nối dòng trong ngày Chúa Chúa Cứu Thế ngự đến. Tuy nhiên hai ông bà vẫn siêng năng cầu nguyện, xin Chúa cho một người con, mặc dầu thời gian vẫn tàn nhẫn qua, râu ông mỗi ngày mỗi trắng xóa, tóc bà mỗi ngày mỗi bạc thêm, cả hai mỗi ngày mỗi xa hy vọng làm cha mẹ.
    ***
    Nhưng đã đến ngày dâng hương trong đền Thánh. Một ngày cảm động biết bao!
    Sáng hôm ấy người ta thấy tiến đến Ðền thờ một ông già râu trắng, đường hoàng trong bộ lễ phục, áo dài đến tận gót, thắt chẽn lại ở ngang ngực với cái dải rộng, màu sặc sỡ và thêu rất tỉ mỉ công phu. Ông đi chân không, đầu đội mũ cao vành, bước đi nhịp nhàng kính cẩn. Thình lình một tiếng chiêng vang lên, hòa điệu với bản nhạc gần đấy.
    Cảm động đến run lên, ông lướt nhẹ qua đám dân tiến vào cung Thánh. Ðồng thời hai vị phó tế lùi gót lại và để một mình ông cầu nguyện.
    Trong trường hợp đặc biệt có một không hai này, ông tha thiết xin Chúa nghe lời dân, sai Chúa Cứu Thế xuống. Ông cũng xen thêm lời cầu khẩn nữa, là xin cho bạn mình được sinh con. Ông biết lắm, có con như mình là cả một đặc ân, chỉ có Chúa ban mới được. Và với một con, gia đình ông sẽ hoàn toàn an vui đẹp đẽ.
    Ông già vẫn cầu nguyện....
    Ông sấp mình xuống, ông chỗi dậy, ngửa mặt lên. Thốt nhiên, mắt ông bắt gặp một hiện tượng lạ lùng ở bên hữu bàn thờ về phía chân nến 7 ngọn. Một Thiên Thần đã hiện ra sáng láng! Ông run sợ, nhưng Thiên Thần dịu dàng nói với ông:
    "Hỡi Giacaria đừng sợ “
    "Lời ông cầu khẩn đã được chấp nhận, và bạn (vợ) ông là bà Ysave sẽ sinh cho ông một con trai “
    "Ông sẽ đặt tên cậu là Gioan, cậu sẽ là nguồn vui cho ông và nhiều người sẽ reo mừng trong ngày sinh của cậu, vì cậu là vĩ nhân trước mặt Chúa. Cậu sẽ không uống rượu hay bất cứ một chất gì có gây say sưa ; Chúa Thánh Thần sẽ thánh hóa cậu ngay lúc còn trong lòng mẹ.“
    "Cậu sẽ hướng dẫn nhiều con dân Íchriên ( Israel) về với Chúa. Cậu sẽ nhiệt liệt phụng sự Chúa và đi theo con đường Êlia đã vạch thuở trước, để tạo nên những người nhân đức như tổ phụ ngày xưa, và uốn những kẻ cứng lòng qui thuận lẽ phải, để toàn dân sẵn sàng trong ngày Chúa ngự đến “.
    Thiên Thần nói rõ ràng. Nhưng hoặc chưa định thần được hoàn toàn, hoặc chưa nắm chắc trong tay được người con như đã từng nắm chắc chòm râu bạc, ông già rụt rè thưa:
    Làm cách nào để nhận biết điều đó? vì thực tôi đã già và bạn tôi cũng đã quá kỳ sinh con “
    Lời thưa có vẻ nghi nan và thiếu rõ rệt. Quả thực ở đây không phải là Thiên Thần hiện ra lần đầu. Lịch sử Ðạo cũ đã thuật lại nhiều trường hợp thiên thần hiển hiện cùng các thánh tổ. Ông già lại là bậc thông hiểu Kinh Thánh, hẳn ông không thể hồ nghi được về sự thiên thần hiển hiện, là vì ông còn ngờ sự mệnh của thiên thần.
    Thiên Thần ra bộ trách mắng:
    "Ðáng lẽ ra ông tin ngay lời tôi mới phải, vì tôi là Thiên Thần Giabiên ( Gabriel) được hầu cận trước tòa Thiên Chúa. Chính Ngài đã sai tôi đến báo tin mừng cho ông. Thế mà ông không tin. Vậy này đây, ông sẽ bị cấm ngôn cho đến ngày con ông ra ánh sáng, để chứng thực lời tôi đã nói với ông “.
    Ông già Giacaria chưa kịp phân trần, Thiên Thần đã vút biến đi. Và một thảm trạng còn lại với ông đang lo sợ bối rối. Từ lúc đó ông hóa ra câm! Ông bị phạt vì đã không mau mắn lấy lại một tiếng “vâng” thưa lại với sứ thần của Thiên Chúa.
    Nhưng bù lại, một nguồn vui sướng đã trào lên lòng ông, vì mắt ông đã thấy thiên thần hiển hiện và tai ông đã được nghe tên cậu con trai tương lai yêu quí của ông. Ông kính cẩn và cảm động ghi kỹ những lời:
    "Ysave sẽ sinh cho ông một con trai “
    "và Gioan là tên người con trai ấy “
    ***
    Ở ngoài dân chúng chờ đợi ông đã mỏi. Từng nghìn cặp mắt trố vào cửa nhà thờ. Người ta bắt đầu sốt ruột và khó chịu. Từ phía nọ tới phía kia rầm rầm lên những câu:
    - Sao ông chủ tế này chậm chạp thế?
    - Gớm ông già đạo đức có khác!
    Cũng có người láu lỉnh:
    - Thôi, đích rồi, hay chừng ông cụ không con, lại cầu tự đấy. Cụ cần phải xin con trai!..
    Người ta đang kháo nhau rầm rộ, thì bóng ông già ở trong cung Thánh hiện ra. Nhưng ông có những cử chỉ khác thường. Toàn thân ông lộ vẻ bối rối, ông không làm chủ được mình, và hình như ông vất vả lắm mới nhớ được phải ban phép lành cho dân. Ông giơ tay lên và cố sức đọc lời lễ nhạc. Nhưng lạ! Lưỡi ông như dính chặt lại trong cổ...
    Nhiều người đoán chừng ông già mới chứng kiến một việc lạ lùng trong cung Thánh, có lẽ là một sự hiển hiện ly kỳ.
    Từ ngày ấy ông già phải làm hiệu ra dấu để tỏ bày ý muốn.
    Cuối tuần ... phiên chủ tế thuộc tiểu tộc Abia kết liễu. Tuy với tình trạng điếc câm, ông già Giacaria sung sướng âm thầm trở lại nhà ở làng Anhkarim ( Ain-Karim) cách Jêrusalem nửa dặm.
    Và không bao lâu, bà Ysave cảm thấy nặng nề.Bà hiểu mình đã có thai.Bà mừng rỡ hết sức, luôn luôn mong đến ngày sẽ được làm mẹ,và trong năm tháng bà không ra khỏi nhà. Bà chúc tụng Chúa luôn luôn:
    “Chúa nhân từ quảng đại! Người đã cứu tôi khỏi cái nhục không con trước mắt thế gian”
    Tôi Xin Vâng
    KHUÊ PHÒNG TỊCH MỊCH CỦA TRINH NỮ RỘN TIẾNG CHÀO CỦA NAM NHI
    Tháng sáu năm ấy, năm bà Ysave thụ thai. Thì ở góc trời Nagiaret ( Nazareth) một trinh nữ đang cầu nguyện.
    Ðột nhiên một Thiên Thần hiện đến.
    Người trinh nữ đó tên là Maria ( Mary)
    Cô là một thiếu nữ xuân xanh trạc chừng mười lăm. Công, dung, ngôn, hạnh, bề nào cô cũng nổi danh một cách tuyệt vời. Thân phụ cô là cụ ông Gioan Kim ( Joakim) và cụ bà là Anna, thuộc dòng tôn thất của minh hoàng Ðavít ; nhưng cả về danh vọng lẫn gia nghiệp, đã trụt xuống bậc trung lưu. Trong các chị em họ của cô, Thánh Kinh ghi tên hai bà là Ysave vợ ông Giacaria và bà Maria mẹ ông Giuse và ông Giacóp.
    Bên Trung Ðông có tục kết hôn rất sớm. Thân phụ cô Maria đã nhận gả cô cho một người thợ mộc tên là Giuse ( Joseph) Ðó thật là môn đăng hộ đối...Ông Giuse thuộc hoàng tộc Ðavít, nhưng nay cảnh huống cũng như cô Maria, cửa nhà thanh bạch, làm chỉ đủ ăn, không có gì dư dật. Trong tục lệ Do Thái, trước lễ thành hôn thì có lễ đính hôn. Lễ này có vẻ long trọng và chính thức lắm ( Theo tục Do Thái sau khi đính hôn, hai người đã coi nhau như vợ chồng, chỉ khác là về ăn ở chung với nhau, nhưng hai bên đã phải chịu những bổn phận làm vợ làm chồng. Vì thế lễ đính hôn quan trọng hơn lễ thành hôn, và con cái sinh ra trong thời kỳ đính hôn, cũng coi như là con chính thức.) Nên đính hôn rồi, đôi bên có quyền dùng tiếng “vợ chồng "gọi nhau.
    Một ngày đẹp trời kia, họ hàng hai bên tề tựu đông đủ, ông Giuse mặt đỏ khác thường, đã tiến ra tuyên bố cách e thẹn trước mặt mấy chứng tá với cô Maria "Từ nay cô kết bạn với tôi "và dúi vào tay cô ít tiền để bảo đảm lời đính ước. Rồi cả hai uống chung một cốc rượu, để rơi tuột cốc rượu xuống dưới chân ; chỉ nghĩa là không ai dùng cốc đó nữa. Từ ngày ấy hai đời sống kết thành một và hai quả tim hòa nhịp yêu nhau để đợi ngày mở tiệc thành hôn sung sướng.
    Cô Maria đã đính ước với ông Giuse ở Nagiarét, nhưng cô vẫn ở nhà cha mẹ và theo đời sinh hoạt đã quen ; lý tưởng của cô là mến Chúa yêu người, công việc của cô là giúp đỡ cha mẹ, quét dọn, thêu thùa, nấu ăn. Bây giờ cô lại mang thêm một bổn phận nữa, là phải yêu quí hết sức và trung thành với bạn Giuse. Nên cô càng siêng năng cầu nguyện để cả hai linh hồn cùng hòa hợp trong điệu đàn kính ái.
    Ngày kia cô Maria triền miên cầu nguyện trong khuê phòng tĩnh mịch. Cô cầu nguyện rất sốt sắng, có lẽ sốt sắng nhất đời. Cô năn nỉ xin Chúa thương tình nhân loại, sai Chúa Cứu Thế xuống. Phòng đó là nơi thâm kín, duy có một cửa sổ hẹp đem chút ánh sáng vào. Cô đang cầu nguyện, bỗng nhiên xảy đến một trạng thái lạ: Trừ ra một chút ánh sáng vẫn thuộc hàng ngày, có những làn quang tuyến khác thường từ trên chảy tràn xuống một cách như reo vui. Phòng cô sáng rực, hiện rõ hình một nam nhi đang đầm mình trong ánh sáng.
    Nam nhi đó là Sứ thần Gabriel. Ngài là một thần cao cấp trong phẩm thiên thần được vinh dự hầu cận trước tòa Thiên Chúa. Trước đây mấy tháng, chính Ngài đã đem tin mừng cho ông già Da-ca-ri-a. Nay lại được đặc cử mang tin vĩ đại hơn, Ngài sung sướng lắm, Ngài nghiêng mình kính cẩn chào cô Maria:
    "Kính mừng Bà đầy ơn Thánh “
    "Thiên Chúa ở cùng Bà “
    "Bà phúc đức hơn mọi người nữ “
    Lời thiên thần có nghĩa "kính chào và ca tụng " Ngay từ bé, cô Maria vốn là cô gái rất ngoan, kiều mị và cao thượng, khiến ai cũng phải yêu mến kính nể.
    Thường thường một nữ nhi bắt đầu tiếp xúc với người ngoài, hay có tính tò mò ; đối với bạn nhiều hơn tuổi, hay giả hình và nói dối. Rồi cùng đi với thời luân chuyển, tính hồn nhiên biến đi, nhường chỗ cho sự e thẹn, và có khi là ganh tị ghen ghét v..v.. Nhưng tất cả những tính tình ấy không bao giờ lảng vảng tới linh hồn cô Maria. Bất chấp thời gian và hoàn cảnh, cô cứ luôn luôn là cô gái hồn nhiên và thẳng thắn. Hồn nhiên như làn hương trước gió hiu hiu, và thẳng thắn như dẫy cột trụ trong Ðền Thánh. Cô sống trong thế gian nhưng không vương vấn tình thường của thế gian. Lòng của lúc nào cũng tươi thắm như hoa hồng, và hồn cô trinh bạch như bông huệ. Cô xa lánh tất cả những gì kiểu cách hư hoa, là đê hèn ích kỷ. Ai ác cũng mặc, ai cười cũng kệ. Ngày lại ngày, cô chỉ chuyên chú leo mau những bậc thang nhân đức.

    Tâm hồn cao thượng giầu đạo hạnh ấy đã đem lại cho cô sở thích đắm mình trong Thánh Kinh và câu nguyện. Ngày ngày suy gẫm Thánh Kinh, cô hiểu rõ hơn ai hết rằng ; vị cứu tinh của muôn dân không phải hiểu theo nghĩa vật chất binh bị. Theo quan niệm của cô, Chúa Cứu Thế sẽ không mài gươm sửa kiếm để chặt gẫy ách đô hộ La Mã, Ngài cũng không đem thiên binh vạn mã đi chinh phục thế giới. Chúa Cứu Thế sẽ đến, phải rồi. Nhưng sứ mệnh của Ngài là hướng dẫn thế gian bằng ngọn đuốc sáng của sự thật và sưởi ấm lòng người bằng lửa mến yêu, để xây dựng hòa bình trên nền móng công bình chính trực. Hiểu biết như vậy, nên cô rất mong đợi Chúa Cứu Thế đến, và những giờ cầu nguyện, cô luôn luôn xin Thiên Chúa sai Ðấng Cứu Thế xuống thế gian. Ðáp lại ý nguyện ấy, Thiên Chúa đã nghe lời cô, và thật giờ đây, sứ thần của Ngài nghiêng mình kính cẩn chào cô:
    Kính mừng Bà đầy ơn Thánh, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi người nữ.
    Nhưng thoạt nghe lời Thiên Thần chào, cô Maria khiếp sợ ...
    Là trinh nữ trác việt, chí khí hiên ngang, cô không sợ vì bị chìm dưới làn quang tuyến mới lạ, hay vì bắt gặp một nam nhi trong ánh sáng. Nhưng thiên thần ca tụng cô và chỉ nói đến vinh quang cao cả, mà cô lại vốn tính khiêm cung tột bực, nên nghe lời khen, cô lạ lùng, bỡ ngỡ... Cô yên lặng suy nghĩ và chưa hiểu ra sao. Nhưng từ trên luồng ánh sáng, thiên thần đã khuấy động bầu khí tịch mịch của khuê phòng bằng những lời cam đoan và an ủi:
    "Nhưng thưa Bà, xin đừng sợ, vì Bà đã được ơn nghĩa với Chúa “.
    Rồi không để mất một giây, thiên thần trình bày ngay với cô việc vô cùng vĩ đại có một không hai trong lịch sử:
    "Bà sẽ trở nên mẹ và sẽ sinh một con trai, quý danh là Giêsu. Ðó là một thiên đồng siêu vị, vì Ngài chính là Con Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai vàng vua Ðavít là Tổ phụ Ngài. Và Ngài sẽ là vị đại hiển vinh của thế giới, nước Ngài trị sẽ không có thời hạn và biên cương “.
    Thiên thần đã mạc khải việc Chúa Cứu Thế giáng sinh. Cô Maria cũng hiểu như vậy, vì lời thiên thần hợp khít với lời tiên tri trong Cựu Ước mà cô đã nhập tâm.
    Theo lời tiên tri đó, Chúa Cứu Thế sẽ giáng sinh vào dòng tộc của minh hoàng Ðavít. Nên những người thuộc dòng tộc hoàng gia đều đã có tham vọng làm cha mẹ hay bà con thân thuộc với Chúa Cứu Thế. Nhưng riêng với cô Maria, cô đã đặt mình vào một trường hợp đặc biệt.
    Say mê đức khiêm cung, cô đã bỏ ý định trở nên người mẹ, để một đàng xa hẳn cái cao vọng sinh Chúa Cứu Thế và đàng khác lại có thời gian thong thả để hiến mình làm tôi mẹ Thiên Chúa. Nhất định ôm ấp cái vinh dự làm tên nô tỳ vô danh như vậy, cô đã gắng sức tu thân tích đức và chuyên cần ăn chay cầu nguyện để xin Chúa Cứu Thế ngự đến. Nói rõ rệt hơn, cô đã khấn ở đồng trinh trọn đời. Cô đính ước đấy. Nhưng cô đã tỏ cho Giuse ý định và lời khấn của cô. Và may mắn quá, cũng như cô, Giuse cùng nuôi một ý nguyện. Ông cũng khấn ở đồng trinh trọn đời và chỉ ước ao được phụng sự Thiên Chúa một cách triệt để. Và trong chỗ đó, cả hai chỉ áp dụng một hình thức bên ngoài của Luật Cũ, để che dấu một sự vô cùng cao quý bên trong là chí khí ở trinh khiết trọn đời. Cả hai ước định ở bậc vợ chồng, nhưng với tâm hướng coi nhau như anh em, chỉ có thế. Mục đích của hôn nhân là để sinh con và tương thân tương ái. Ở đây cả hai đều gạt bỏ mục đích trước mà chỉ chú trọng đến mục đích sau. Ðó là trường hợp duy nhất trong lịch sử nhân loại, và Chúa đã dùng trường hợp đó để che mắt dân Do Thái về sự mầu nhiệm Chúa Cứu Thế giáng sinh ( theo ý kiến nhiều tác giả, để che dấu cả ma quỷ)
    Thiên thần đã kính chào và đề nghị, nhưng cô Maria vẫn lặng yên chưa thưa lại. Thiên Thần cũng đợi chờ cung kính. Thấy Chúa mở lượng hải hà yêu nhân loại thiết tha, cô Maria cũng xúc cảm và dạt dào sung sướng. Cô nghĩ, nếu đẹp ý Chúa mà trở nên người Mẹ, cô đâu dám từ. Nhưng ý định ở đồng trinh vẫn hiện lên trong lý trí, nên theo đà hồn nhiên và thánh thiện, cô xin thiên thần giải thích:
    Nhưng việc đó làm sao được? Vì tôi đã khấn và quyết ở đồng trinh “
    Câu đáp từ đó, lời lẽ đơn giản nhưng ý nghĩa sâu xa. Ðã khấn ở đồng trinh, nghĩa là không bao giờ ăn ở với người nam nữa. Như thế còn sinh con làm sao được?
    Nhưng với trí khôn sáng chói như mặt trời, thiên thần đã hiểu ngay và suy phục. Ngài chịu diễn giải:
    "Thưa Bà! Bà sẽ có thai mà vẫn còn đồng trinh. Vì trong trường hợp này không phải bởi người nam, nhưng bởi Ðấng Toàn Năng làm phép lạ vĩ đại cho Bà chịu thai. Bà sẽ sinh một Thánh Tử, và Thánh Tử đó chính là Con Thiên Chúa. “
    Ý nghĩa lời thiên thần như sau: Chúa Toàn Năng có thể làm được phép lạ nổi nhất về bên Thiên Chúa, là tự hạ làm người, thì Ngài cũng có thể làm được phép lạ nổi nhất về đàng nhân loại là cho trinh nữ chịu thai mà còn đồng trinh. Nói cách khác, một Ngôi Thiên Chúa có thể trở nên con cái một người mà không mất bản tiùnh Thiên Chúa, thì đối lại, một người cũng có thể trở nên Mẹ Thiên Chúa mà không mất đức đồng trinh. Theo luật thường, người nữ phải ăn ở với người nam mới có thể sinh con. Nhưng ở đây, vì Chúa sẽ làm phép lạ, nên không cần người nam. Một mình trinh nữ sẽ chịu thai và sinh con, cũng tự như hạt lúa mì, một mình nó có đủ cả âm dương để khai hoa kết quả.
    Rồi hình như muốn bảo đảm lời mình nói, thiên thần lại báo thêm một tin vui:
    "Thực ra chẳng có gì mà Thiên Chúa không làm được. Ngay như bà Ysave là chị họ của Bà, dẫu đã già quá tuổi mà cũng sẽ sinh con. Nên chính người mà xưa nay thiên hạ vẫn chê là muộn mằn, son hiếm ; thì ba tháng nữa sẽ được vinh dự làm mẹ ".
    Lời đề nghị và giải thích của thiên thần đã chấm dứt.
    Lúc ấy—nói theo các thần học giả—trên trời và dưới đất hình như bám vào một giây phút đợi chờ, cái giây phút tùy ở sự định đoạt của Trinh Nữ với tiếng “có” hay “không” để giữa Thiên Chúa và nhân loại sẽ lóe ra một tia sáng giao hòa, giữa trời và đất sẽ bắc một cầu thang cứu rỗi...
    Về phần cô Maria, một đàng thấy cửa trời rộng mở, nguồn từ bi của Chúa trào chảy xuống dương gian ; một đàng khác cũng hiểu thánh ý Chúa muốn cô chịu thai mà còn đồng trinh trọn vẹn, nên cô vui mừng hết sức, phó mình trong tay Chúa và quy thuận ý trên. Tuy nhiên , bây giờ phải trả lời cho thiên thần, mà trong trường hợp này trả lời không phải dễ. Nhưng rồi nhờ đức khiêm nhường tột bực, và sẵn trí khôn sâu sắc, cô đã tìm được câu trả lời rất đơn sơ gọn gàng nhưng sâu sắc ngay chính trong nhơn đức khiêm nhường và khôn ngoan:
    "Này tôi là tôi hèn của Chúa. Tôi xin vâng như lời Người dạy “.
    Lời thưa của cô có ý nghĩa rất sâu “Này tôi” là tiếng thốt ra tự đáy lòng. Nó biểu lộ tâm tình người dưới sẵn sàng chịu mệnh lệnh người trên. Ở đây chỉ nghĩa cô hết lòng vâng mệnh lệnh Chúa, như em bé trao mình vào trong tay người mẹ. Cô muốn vâng lời Chúa một cách hoàn toàn, không giữ lại một mảy may tư ý.
    “Này tôi là tôi hèn” Cô vâng lời vì cô vốn coi mình là một tôi hèn, là nữ tỳ vô danh của Chúa. Nên trong lời thưa, tự nhiên cô xưng mình là tôi tá, cho dẫu trước đây mấy phút, Thiên thần đã chào cô là phúc đức, được Chúa ngự trị trong lòng luôn luôn.
    Theo các Thánh, trong các cách đẹp lòng Chúa, vâng lời là hợp ý Người hơn hết, và trong mọi nhân đức, khiêm nhường là khó hơn cả. Lời thưa vắn tắt của cô Maria đã bao trùm tất cả những cái "hơn hết "ấy một cách hoàn toàn đầy đủ.
    Và đồng thời với lời thưa khiêm tốn của cô. Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thai trong lòng cô. Ngài đã làm một phép lạ vô cùng vĩ đại, mà các thần học sĩ quen gọi là "phép lạ nhập thể "nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa mặc lấy nhân tính bao gồm linh hồn và thể xác của loài người.
    Lời thưa của cô Maria quả là đầy đủ và đã được thực hiện. Lời thưa vừa dứt, Thiên thần Gabriel hiểu sứ mệnh “truyền tin” của mình cũng đã hết, Ngài nhẹ nhàng biến đi.
    Những làn quang tuyến không thấy nữa. Khuê phòng cô Maria lại trở về tĩnh mịch với chút ánh sáng mờ do cửa sổ hẹp, vây quanh lấy cô đang cầu kinh ngây ngất.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
    phero D thích bài này.
  3. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Chị Em Gặp GỡSAU LỜI CHÀO, MỘT THAI NHI NHẢY MỪNG TRONG BỤNG
    Ngày truyền tin đã lùi vào dĩ vãng nhưng dư hương còn thoảng lại. Linh hồn cô Maria vẫn tràn ngập trong đại dương vui sướng, không lúc nào quên được Thánh Tử ngự trong lòng, và cái hỷ tín vài tháng nữa bà chị họ có quý tử. Tin sau xét kỹ ra, cũng chỉ là tin vui thôi. Nhưng với tầm mắt đạo hạnh, cô lại hiểu đó là thiên ý muốn cô đi thăm bà chị họ, để trước là chung vui, sau là đỡ đần người chị trong những ngày thai nghén nặng nhọc.
    Nên một buổi sớm mai, rạng động còn trộn ánh hồng trong sương mờ trên con đường ngàn dặm, đồi núi chập chùng cô đã mau lẹ tiến bước. Mình khoác chiếc áo màu đỏ lợt, đầu đội lúp xanh lam như thời trang của nhóm thiếu phụ đồng trạc tuổi, mắt cô hướng về phía thành Jêrusalem, lần bước theo ngã đường Anhkarim nơi ông Da-ca-ri-a ở .
    Anhkarim là một làng nhỏ đẹp xinh, nằm gọn như bụi cây xanh giữa rặng núi đá đồ sộ và phẳng nhẵn, nên người ta tặng nó cái tên hoa lệ “Anhlarim” nghĩa là "suối nước chảy”
    Làng này ở về phía Tây thành Jêrusalem cách xa Nazareth hơn 100 cây số ( một người đi nhanh trung bình phải đi mất 4 ngày ) Ðó là quãng đường ghập ghềnh lên xuống, chạy quanh như rắn uốn khúc giữa những núi đồi. Ðối với một thiếu phụ như cô Maria, cuốc bộ cả một quãng đường như thế, không phải là ít khó nhọc và vất vả. Nhưng chẳng hệ gì, cô không sợ nỗi đường xa dặm thẳng. Cô chỉ vui sướng triền miên, được mang Thánh Tử trong lòng và đi mau để đưa Thánh Tử đến thăm bà chị họ.
    ***
    Kìa từ xa hiện hình một cái làng nhỏ, cái làng xinh đẹp đầy thân ái, quê hương của người thân yêu. Sung sướng bước vào nhà ông Da-ca-ria, cô bắt gặp bà chị Ysave ngoài ngưỡng cửa. Cô nghiêng mình kính cẩn chào. Nhưng một cảm khái vô song đã trùm lấy người chị và cô, khiến cả hai cùng nắm chặt tay nhau và cảm động, tiếp theo đó là một kỳ trạng xảy ra:
    Vừa nghe lời cô chào, bà Ysave cảm thấy con trong lòng nhảy động.
    Lúc ấy bà mới hiểu rõ. Trước kia ông chồng đã từng làm hiệu cho bà biết con trẻ lạ trong lòng bà sẽ được thánh hóa ngay từ trong lòng mẹ. Bà vẫn tin như thế, vì bà biết thiên thần đã hiện ra với chồng bà trong Ðền Thờ. Tuy nhiên bà cũng mong được xác nhận một dấu cụ thể của ơn lạ lùng kia. Thì bây giờ đây, tất cả mọi sự đã phơi bày ra ánh sáng ; con trong lòng bà đã nhảy mừng, đó quả là dấu cụ thể nó sẽ sinh ra với một sứ mạng đặc biệt.
    Cùng lúc ấy Thiên Chúa soi dẫn nữa, bà cũng biết người chị họ rất thánh thiện của mình mang Chúa Cứu Thế trong lòng, nên bà níu chặt lấy tay cô Maria và cảm động:
    "Maria chị phúc đức hơn mọi người nữ, và con trong lòng chị vạn vạn phúc! “
    "Ôi ! Bởi đâu mà tôi được đặc ân này là Mẹ Chúa đến thăm tôi “
    "Thoạt nghe lời chị, con trong lòng tôi đã mừng vui nhảy múa “
    Suy nghĩ một lúc, hình như so sánh đức tin của người chị họ với đức tin của chồng mình, bà lại nói tiếp “
    "Và chị thật là phúc đức, vì chị đã tin những lời Chúa phán với chị. “
    Với câu trên đây, hẳn bà ám chỉ ông chồng của bà. Ông bị câm điếc vì đã không tin lời thiên sứ và lúc đó đang ngồi trong nhà, không được hạnh phúc chứng kiến vở kịch gặp gỡ rất cảm động diễn ra.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  4. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Nghe bà Ysave chúc mừng, lời lẽ giống hệt như lời thiên sứ, cả quang cảnh “truyền tin” lại gợi ra, làm cô Maria cảm thấy dạt dào sung sướng. Ðôi mắt ánh ngời, gương mặt tỏa sáng, tâm trí bay theo những tư tưởng cao siêu, cô ca khúc một bài tạ ơn Thiên Chúa:

    • "Linh hồn tôi chúc tụng Thiên Chúa.
    • Và tâm trí tôi reo mừng trong Ðấng Cứu Chuộc tôi.
    • Người đã đoái hoài đến tôi tá hèn này,
    • Nên từ đây muôn đời sẽ khen tôi có phúc,
    • Ðấng Toàn Năng đã làm trong tôi nhiều điều cao cả
    • Quả thánh thiện là tước hiệu Người
    • Lòng lân tuất Người vươn mình từ đời nọ sang đời kia
    • Ðể ngả bóng trên những kẻ kính sợ Người
    • Người vận dụng sức mạnh của cánh tay
    • Ðã hủy diệt những kẻ chứa lòng kiêu hãnh.
    • Ai lộng quyền, Người truất xuống
    • Ai khiêm nhường, Người cất lên
    • Ai đói khát, Người cho no đầy ơn phúc
    • Ai phú quý, Người sẽ thải về tay không.
    • Người nhó lại lượng từ bi của Người
    • Và đón chịu lấy Israel là đầy tớ của Người.
    • Như Người đã phán cùng tổ phụ chúng tôi
    • Cùng Abraham và dòng dõi ông cho đến muôn đời.
    Bài cảm tán này quen gọi là bài “Magnificat” vì bản văn Latinh bắt đầu bằng chữ Magnificat, nghĩa là "Chúc tụng hoan hô “
    Theo các nhà thông hiểu Thánh Kinh, Magnificat là bài tán tụng tuyệt diệu, cấu kết bởi những lời trâ châu trong Cựu Ước và phảng phất tâm tình cao cả của một linh hồn cực kỳ đạo hạnh. Nội dung về bài này:
    Ba câu đầu mô tả hai cực đoan ; Một bên là sự thấp kém của loài người, tượng hình bằng những tiếng “tôi tá hèn mọn” một bên là ân huệ vô biên của Thiên Chúa, ân huệ làm cho “các dân muôn đời phải tán tụng Trinh Nữ” Do vậy, Trinh Nữ vô cùng cảm động, và mừng vui trào ra lời cảm tán.
    Năm câu sau biểu lộ tâm hồn Trinh Nữ mênh mông như biển cả, gợn sóng lên vì nguồn cảm hoài quá khứ. Quá khứ ! Ôi cái quá khứ vĩ đại ; biết bao lần Thiên Chúa đã từng làm lệch then chốt của vật thụ tạo, là tôn người khiêm nhường lên và hạ kẻ kiêu căng xuống ! Trong lịch sử của ơn cứu rỗi, Thiên Chúa cũng hành động như vậy.
    Hai câu cuối, Trinh Nữ nhắc lại vinh dự của Do Thái và thánh tổ phụ Abraham được chọn làm hạt giống sinh ra Chúa Cứu Thế. Thiên Chúa thật là quảng đại, muôn đời Người đáng ngợi khen.
    Khảo cứu luận điệu bài trên đây, nhiều học giả Thánh Kinh còn quả quyết, Magnificat là phản ảnh bài nhã vịnh của nữ tiên tri Anna từ mẫu ông Samuel và nhiều đoạn văn khác trong Cựu Ước. Do vậy, một giả thuyết nữa chổi dậy giữa những nhà chuyên học Kinh Thánh: Trinh Nữ đã từng ca khúc Magnificat nhiều lần trong ngày “Truyền tin” và còn lập lại nhiều lần nữa trong đời sống.......
    Nhưng tiếng cảm tạ đã ngừng, cảnh hai chị em gặp nhau đã kết liễu. Mọi sự lại lùi vào chỗ bình thường và im lặng trong nhà ông Da-ca-ri-a.
    Cô Maria còn ở lại với bà chị họ ba tháng nữa mới trở về Nazareth. Quãng thời gian đó trong nhà ông Da-ca-ria, một câu chuyện hay được nhắc đến là chuyện hai kỳ đồng sẽ sinh ra.
    Gioan Chào Ðời
    Thời gian thấm thoát trôi mau như dòng nước chảy. Không bao lâu, bà Ysave đã tới kỳ mãn nguyệt khai hoa trong một ngày đẹp trời, bà đã góp thêm vào thế giới một người con anh tuấn. Ngày cậu cất tiếng khóc chào đời... Bà vui, Ông vui... Cả nhà cùng vui.. Trong đó có cả người chị họ thành Nazareth. Tin mừng được tung ra, gây nhiều cảm giác.
    Ysave nguyên là một lão phụ muộn mằn, thiên hạ thường đàm tiếu, vẫn coi bà như là người bị trời phạt ! Nên hỷ tín phát ra, thân thuộc nội ngoại của bà đều bỡ ngỡ, họ rủ nhau tới tấp đến chúc mừng.
    Tám ngày sau họ hàng thân thích được mời đến dự lễ Khai sinh cho cậu mới, theo một nghi lễ gọi là lễ “Cắt bì”
    Vì những lý do bảo vệ giống nòi, vệ sinh và an hảo, tại miền cận đông khan hiếm nước hay sinh bệnh truyền nhiễm, người Ai Cập, Ả Rập và Do Thái, có tục cắt bì cho trẻ em nam mới sinh vào ngày thứ tám. Riêng với Do Thái, lễ cắt bì còn nhuốm thêm một ý nghĩa tôn giáo rất xa xôi. Họ tin rằng là dân riêng của Chúa, có đặc quyền thừa tự những lời hứa “cứu rỗi” họ cần phải áp dụng lễ cắt bì cách long trọng để kỷ niệm bằng máu đào của nam nhi bản thỏa hiệp “Trung Nghĩa” đã ký với Chúa ngày bỏ nước Ai Cập. Nghi lễ này có thể làm hai nơi, một là nhà Giảng Hội, hai là ở tư thất.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  5. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Vậy bà Ysave sinh con được tám ngày, ông Da-ca-ria đã cho mời mươi người ( theo tục lệ phải mời ít nhất 10 người ) đến nhà dự lễ cắt bì cho cháu mới.
    Cắt bì xong mọi người im lặng và cung kính, nghe vị chủ tế đọc mấy lời lễ nhạc sau:
    "Lạy Chúa Tể của tổ phụ chúng tôi !
    "Xin hãy tăng cường và bảo vệ trẻ nhỏ.
    "Xin hãy làm cho thanh danh nó thơm nức trong dân. “
    Tiếp đến là việc chọn tên cho con trẻ. Ai ai cũng có vẻ nhiệt thành và mau mắn đưa ra một quý danh để làm vui lòng gia chủ. Người chủ lễ đề nghị một tên được mọi người chú ý:
    "Xin gọi cháu là Giacaria ! “
    Nhưng Bà Ysave cương quyết chối từ !
    "Không, không ! tên cháu là Gioan .”
    Mọi người phản kháng:
    Không vậy được ! bà dị quá ! Có ai trong tông tộc là Gioan đâu ? Thôi thế để chúng tôi hỏi ông cho chắc việc vậy.
    Người ta quay về phía ông Da-ca-ria, trổ tài làm hiệu, xin ông tỏ ý đặt tên gì cho cậu ấm, rồi một bảng viết bằng đá đen bôi sáp với cây viết sắt được đưa ra.....
    Nhưng trước con mắt ngỡ ngàng của mọi người, ông viết lên những nét rõ ràng chính tên bà Ysave vừa đề nghị:
    "Tên cháu là Gioan “
    Thật là minh bạch... Không còn ai dám cãi về danh hiệu phải đặt tên cho con trẻ nữa. Họ chỉ lấy làm lạ cái danh hiệu tân kỳ này thôi, vì họ không biết những bí mật đã xảy ra trong Cung Thánh từ chín tháng trước. Thế rồi hết bỡ ngỡ, họ lại đổi sang kinh ngạc, vì thoát chốc, Da-ca-ria, ông già bị câm điếc từ chín tháng vừa viết xong chữ “Gioan”
    đã bắt đầu nói, và trong niềm vui say sưa lại lồng thêm ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, ông đã ca xướng một bài tán tạ rất cảm động dệt lên bởi những lời tiên tri:

    • "Hoan hô Thiên Chúa !
    • "Chúc tụng Chúa Tể dân Israel !
    • "Lạy Chúa ! quả thực, Chúa đã ngự đến giữa dân Chúa.
    • "Ðể mang ơn Cứu rỗi lại.
    • "Chúa đã làm chổi dậy trong gia đình Ðavít là tôi tá Chúa.
    • "Một vị cứu tinh uy hùng
    • "Như xưa Chúa đã phán cùng các tiên tri:
    • "Chính người sẽ cứu chúng tôi thoát khỏi tay thù địch.
    • "Và thoát khỏi quyền lực những kẽ mưu hại chúng tôi !
    • "Chúa đã yêu đương tổ phụ chúng tôi
    • "Chúa đã nhớ lại lời Thánh ước Chúa.
    • "Và lời minh thệ cùng Abraham là tổ phụ chúng tôi,
    • "Ðể ban cho chúng tôi, sau khi thoát khỏi tay thù địch,
    • "Ðược hiên ngang phụng sự Chúa trước tôn nhan Người, trong đàng thánh thiện và lẽ
    • công chính trọn đời của chúng tôi.
    • Rồi ông quay vào cậu con trai nói tiếp:
    • "Còn phần con, hỡi con nhỏ của Cha !
    • "Một ngày kia con sẽ trở nên tiên tri của Chúa tối cao.
    • "Con sẽ đi trước nhan Người, để dọn đường cho Người ngự đến,
    • "Con sẽ mang lại cho dân Chúa, Tin Mừng cứu rỗi và ơn tha tội.
    • "Vì với lượng hải hà, Thiên Chúa sẽ ngự đến thăm viếng chúng ta,
    • "Chúng ta phải ngồi trong bóng mờ của sự chết
    • "Nhưng Người đã hiện lên sáng tựa mặt Trời, để đánh xua bóng đêm tăm tối
    • "Và hướng dẫn bước đi của chúng ta trong nẻo hòa bình, công chính.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  6. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Nghi lễ đã xong, tiếng ca ngợi của ông già Da-ca-ria im bặt, thân bằng cố hữu đều giải tán. Nhưng ai nấy hồi hộp. Hiện tượng ly kỳ của buổi lễ còn luôn luôn phảng phất. Nó đã trở nên đầu đề của những câu chuyện hằng ngày và lừng tiếng đi trong cả miền sơn dã xứ Giuđêa. Một niềm kính sợ lan tỏa trên khắp những nơi tiếp cận nhà Da-ca-ria. Và từ nhà nọ sang nhà kia, xì xầm lời bàn tán:
    " Theo ý ông, trẻ kỳ đồng này sẽ ra sao ? “
    Trong gia đình yên tĩnh của ông Da-ca-ria, cậu Gioan ngày ngày càng thêm lớn và phát triển, cậu là một nam nhi chí khí.
    Không bao lâu, cậu đã biến đi. Thân phụ cậu về già, khuất núi ! Tuổi chừng 15 hay 16 Thân hình phơi phới sắc xuân xanh, cậu lánh mình vào rừng xa núi vắng, cậu muốn hòa lời kinh và tiếng roi đánh tội vào điệu đàn muôn thuở của suối rừng, để tập đời sống thanh cao theo những nét hồn nhiên vĩ đại nơi rừng núi. Ngoài ra nữa, không ai biết được đời sống của cậu ra sao, mãi cho đến ngày cậu ra mắt trước dân chúng Israel với đoàn môn đệ và Phép Rửa.
    Tiến Thoái Lưỡng Nan
    BUỒN VUI ÐẮP ÐỒI
    Cậu Gioan sinh ra. Trinh Nữ coi thời hạn viếng thăm đã hết. Người xin từ biệt bà chị họ, cả hai cùng sầu, mấy hàng lệ rơi lã chã....... Một làn áo đỏ lợt lại bay về Nazareth, Trinh Nữ trở về quê hương, tâm hồn ngây ngất, thánh ân dào dạt, lúc lúc lại thầm ca bài Magnificat. Trinh Nữ về nhà, ông Giuse đến chào thăm săn đón với những nụ cười tươi thân ái. Hai Thánh nhân lại gặp nhau. Hai ngọn nến sáng lại sóng đôi nhau tỏa hào quang và nhiệt khí trên bàn thờ kính ái.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  7. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Ông Giuse sẽ nghĩ đến việc thành hôn, vì trước đây mới có lễ đính hôn !
    Thành hôn ! Cái danh từ tươi sáng gồm biết bao sửa soạn êm đềm !
    Nhưng giữa trời quang mây tạnh, thình lình nổi lên cơn giông, mưa sa gió táp. Ngày vui chưa kịp hưởng, đêm sầu đã lại ! Trong họ ngoài làng có tiếng thì thào tới tai ông Giuse
    "Maria, bạn ông có thai! “
    Thoạt tiên không tin, ông hết sức bỏ đi như cơn cám dỗ. Nhưng dần dần bụng dạ cũng phải tin theo hiện trạng trước mắt: Maria quả đã có thai. Tâm trí ông liền bối rối lại, trở nên đích cho những nhát rìu lo âu băm bổ. Sự thực là Maria vắng mặt 3 tháng và đã có thai. Có thai không phải vì đã ăn ở với ông Giuse hay vì có tình ngang ý trái với người nào khác ! Nhưng vì phép lạ của Chúa Thánh Thần. Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thai như lời thiên thần đã báo trước.
    Maria biết rõ như vậy, nhưng ông Giuse hiểu sao ra ! Thành thử ông buồn phiền bối rối, nỗi niềm sầu khổ này mỗi ngày một tăng lên, lộ ra với những nét răn khác thường trên khuôn mặt vốn bình tĩnh.
    Thấy người thân mến phải đau khổ vì mình, Maria cũng mất hết vui ! Bể sầu càng nổi sóng, bão chua cay càng thổi mạnh, Người thấy không biết làm cách nào tháo gỡ, Người thấy mình chét chẹt giữa hai điều cùng không có thể: Một đàng không thể công khai tuyên bố việc bí mật của Thiên Chúa. Một đàng khác cũng không thể tự tiện ngỏ với Giuse:
    - "Này Giuse thân ái ! Tôi tốt phúc lắm, thai ở trong tôi là do Chúa Thánh Thần đã làm nên. “
    Không ! Không ! Nói thế làm sao được ? Ai tin ? Tự mình chứng minh cho mình thì còn nghĩa lý gì ! Do thế Trinh Nữ chỉ biết lặng thinh, gởi tâm khổ vào lời cầu nguyện, phó muôn sự mặc ý Chúa.
    ***
    Tàn nhẫn thay ! Vết đau mỗi ngày một loang rộng. Mây nghi hoặc mỗi ngày một đen đặc và bao trùm lấy Giuse. Dấu “Có thai” càng rõ rệt, ông càng phiền muộn. Da dẻ xanh nhợt, mặt mày hốc hác, cặp mắt lim dim lờ đờ mơ mộng, suốt ngày đăm chiêu vào chỗ vô định xa xắm....
    Ngày ngày ông vẫn luôn tay làm việc, cố gởi nỗi lòng vào mạch cưa tiếng búa, và những chiếc ghế nhỏ xinh. Nhưng lúc buông tay khỏi việc, tiếng chàng đục vừa im, vấn đề kia liền vụt trở lại .
    Ông là người rất thánh thiện, và hiểu Lề Luật rõ ràng. Và theo Lề Luật có hai cách giải quyết:
    Cách thứ nhất, là tố giác phạm nhân về tội gian dâm trước án tòa, với những tang chứng rõ rệt, tòa sẽ tuyên án tử hình, cho phép dân và khổ phu ném đá dâm phụ !
    Cách thứ hai là giải phóng Maria cách êm đẹp trước mặt hai chứng tá, giao cho cô một tờ ly thư mà trong đó không nói rõ nguyên nhân chi cả.
    Theo luật thì thê. Nhưng đời sống Maria lại rất thánh thiện, không thể nào bắt bẻ được. Lạ lùng thay ! Cô vẫn hồn nhiên, vẫn bình tĩnh, vẫn nồng nàn thành thực trong tình yêu thương, vẫn trong sáng và dè dặt trong dáng điệu.
    Cũng có lúc hào quang trinh tiết của cô tựa như hiển hiện rạng ngời đến nỗi không thể nào hồ nghi được cô đã thất trinh. Phải ! Không thể nào tội lỗi lẻn vào được con người nhân đức ấy.
    Tóm lại ông Giuse vẫn tin chắc như hai với năm là mười, rằng bạn mình vô tội. Nhưng trái lại Maria quả thật đã có thai !
    - Ôi Maria quả thật là một người trần gian không thể hiểu !
    Nhưng Giuse một người công chính mang trong mình một linh hồn sáng suốt, thấm nhuần bằng dòng máu nhân từ của Tân Luật ( chỉ Luật Phúc Âm ) Không có bằng chứng rõ rệt là Maria đã phạm tội, ông không dám nghĩ đến chuyện đem ra sỉ nhục công khai người bạn ông vẫn kính yêu.
    Vậy ông định trao trả Maria một cách âm thầm cho nhạc phụ để cô được tự do. Âm thầm nghĩa là không viết ly thư chính thức với những nguyên nhân, ngày tháng và chữ ký, nhưng chỉ đưa tin cho nhạc phụ biết ý mình đã đổi thay. Cái ý định đó ông tính sẽ lọc lại một lần nữa bằng lời cầu nguyện, rồi tìm dịp ngỏ cho Maria biết. Tuy nhiên ông vẫn do dự phân vân.
    Một đêm kia mệt lã sau chuỗi ngày lo nghĩ, Giuse đặt mình trên chiếc chõng tre, ngủ một giấc nặng nề hoảng hốt ! Tâm trí ông khuấy rối lung tung. Mỗi lúc chợt tỉnh, vấn đề gai góc kia lại tái diễn. Nhưng đột nhiên một thiên thần đã hiện đến và phán bảo:
    Giuse con vua Ðavít, chớ ngại nhận lấy Maria làm bạn. Bào thai trong lòng Người là do Chúa Thánh Thần. Người sẽ hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu nghĩa là “Cứu Thế "vì Người sẽ cứu chữa dân Người khỏi tội khiên.
    Tiếng thiên thần vừa vọng xuống, ông Giuse thấy cả một vũ trụ linh hồn đã biến đổi.
    Ông được soi sáng một cách rõ rệt hoàn toàn, trời tăm tối và u buồn lại hóa ra thanh quang sáng lạn, một làn vui sướng nổi dậy lâng lâng. Giờ đây ông lại hiểu mình có cả một địa vị đặc biệt trong việc giải cứu các sinh linh nữa. Ông sẽ là gia trưởng một gia đình mà trong đó người con là Chúa Cứu Thế, vị cứu tinh của muôn dân, và người vợ là một trinh nữ tuyệt vời thánh thiện. Trước kia bối rối bao nhiêu, bây giờ lại sung sướng bấy nhiêu. Ông hiểu hết ý nghĩa lời tiên tri Isaia trong Cựu Ước: “Một Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh nam nhi. Nam nhi đó sẽ được thiên hạ tôn xưng là Emmanuel, nghĩa là Chúa ở với chúng tôi. (Is. 7: 14 )
    Sáng hôm sau ông vội vã đi gặp Maria để tỏ bày và xin lỗi. Ông vui quá mà hai mắt long lanh giọt lệ. Cô Maria cũng chỉ biết vui thôi, cô đọc trong giọt lệ của bạn nhiều ý nghĩa, cô âm thầm ca lại bài Magnificat.
    Mấy ngày hôm sau, thành Nazareth được chứng kiến một lễ thành hôn đáng ghi trong lịch sử. Ðó là lễ cưới cô Maria. Chiều về khí nóng dần bớt, gió hiu hiu thổi, mang theo mát mẻ ven trời. Một bọn thanh niên y phục lịch sự, ca hành theo điệu ống tiêu và nhịp tiểu cổ, từ nhà chú rể tới nhà cô dâu. Ðến cửa, cả bọn đều đứng đợi, chỉ một mình chú rể được hân hạnh bước vào. Cũng chính lúc ấy, cô dâu mặt ửng đỏ, từ biệt họ hàng và ra đi. Lần sau hết bọn phù dâu sửa lại cho cô cái lúp lớn thêu hoa che mình và đặt trên đầu cô một vòng hoa trắng kết lẫn với hoa nho nhỏ màu cam. Chuỗi người quần áo sặc sỡ đã dàn hàng, mặt mày hớn hở, họ bắt đầu tiến bước, các cô cầm đèn, còn các cậu thì cầm đuốc nhựa thông ; cứ thế tiến thẳng đến nhà chú rể. Mọi người vào nhà, cánh cửa khép lại, và tiệc bắt đầu giữa tiếng chúc tụng âu ca.
    ***
    Giuse đón Maria về nhà. Cả hai đã nên vợ chồng chính thức. Maria sung sướng, Bà năng đếm ngón tay ngày Thánh Tử sẽ sinh ra. Bà sửa soạn ngày ấy bằng tất cả sự có thể, Bà mua vải, may tã, thêu khăn, nhất là siêng năng cầu khẩn.
    Giuse cũng sung sướng hết sức, một đàng Ông yêu kính người bạn hiền vô song, một đàng khác ông không hề dám nghĩ đến việc vợ chồng ăn ở. Ông biết rõ lắm, cũng như ông, người bạn của ông đã khấn ở đồng trinh trọn đời và hiện là Mẹ Thiên Chúa.
    Từ ngày được soi sáng, ông cũng siêng năng làm việc hơn để dành dụm chút ít, chờ ngày Thánh Tử sinh ra. Ông hiểu Chúa Cứu Thế không muốn luôn luôn sống bằng phép lạ, mà chính bằng việc làm của ông. Nên ông càng sung sướng thêm nghị lực làm việc.
    Gia đình Giuse Maria là một gia đình gương mẫu, ban ngày thuận hòa an vui, chăm chỉ làm việc. Tối đến cầu kinh ; giọng trong trẻo của đôi bạn khiết trinh êm ái đưa lên trời thẳm như khói hương trên đàn hiến lễ. Và những câu hàn huyên buổi tối, thường xen vào một mẫu chuyện vô cùng thân mật đáng ghi:
    - Thiên thần truyền cho tôi gọi Thánh Tử sẽ sinh ra là Giêsu.
    - Vâng ! Chính thực mệnh lệnh trên là như thế.
    - Giêsu tức là vị cứu tinh !
    - Vâng ! Quả vậy, và người còn là vị cứu tinh vô cùng vinh hiển, Người sẽ thống trị muôn đời và muôn dân.
    Câu chuyện đó cứ nồng nàn nối tiếp và thường tận kết bằng những tiếng chúc tụng ngợi khen Chúa Trời cao cả...
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  8. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Hang Bê Lem Thời tiết sang Ðông, từng cơn gió thổi mạnh, trời rét tựa cắt da.
    Nhưng ngược với cảnh ngoài, gia đình Giuse vẫn êm đềm ấm áp, những bóng tối lo âu xưa đã nhường chỗ cho những hào quang vui vẻ. Tính ra ngày “ở cữ” đã gần rồi, Maria sung sướng, Bà năng hồi tưởng quang cảnh ngày thiên thần hiển hiện trong khi tay bà để mũi kim chạy mau trên chiếc tã. Bây giờ cái gì cũng đã sẵn, lại thêm cả một cái nôi và một chiếc khăn lớn trên mặt thêu những bông hoa nho nhỏ, Giuse tự tay làm cái nôi đó, làm rất công phu. Thế nhưng ông còn ngắm nghía mãi, có lúc gặp mắt người bạn hiền cũng đang chăm chú nhìn theo, cả hai cùng sung sướng mỉm cười trước cái hy vọng sẽ nhìn một hài nhi anh linh nằm trong nôi đó. Hai ông bà thầm nghĩ:
    Ngày đó, ngày Thánh Tử sẽ sinh ra và sẽ vui biết mấy ! Cái phòng này sẽ thêm vinh hiển... cái cửa sổ kia sẽ mở rộng ra, ánh mặt trời lọt qua đó sẽ được vinh dự đậu trên bàn tay mĩ miều của Thánh Tử. Dăm bảy ngày nữa, Thánh Tử sẽ ngự đến...Ôi Giesu !
    Con là hạnh phúc của chúng ta ! Giêsu, con hãy ngự đến trong tình yêu của chúng ta.
    ***
    Có tiếng huyên náo ngoài đường... Người ta đưa tin đích xác: Ðó là chiếu chỉ nhà vua dán ở các cổng làng truyền cho mọi người phải cấp tốc khai tính danh ở nơi bản quán.
    Việc biên khai đã bắt đầu, chiếu chỉ này do Hoàng đế Xêgiarê Âugút (Cesar Auguste) ban ra.
    Xêgiarê Âugút là vua nước thượng vị La Mã, bá chủ các đất đai nằm bên bờ Ðịa Trung Hải. Ngày truyền lệnh làm sổ nhân danh trong nước để một đàng được tự hào với con số dân đinh khổng lồ ở dưới quyền và đàng khác hàng thuộc quan có đủ tài liệu khai khẩn một nguồn thuế vô song. Và đó cũng là gián kế chiếm đoạt xứ Balêtin và sát nhập vào đế quốc La Mã, một khi quốc vương xứ đó là Hêrôđê qua đời.
    Ðể làm sổ được dễ dàng minh bạch, ban phụ trách đã chia nhau đi từng thành từng làng tra cứu kỹ lưỡng sổ sách công tư người Do Thái lưu truyền trong các thế hệ. Do vậy, nên có chỉ thị buộc ai nấy phải trở về nguyên quán để kê khai. Việc kiểm sổ này xảy ra đang lúc ông Kyrinhu ( Quirinius ) làm toàn quyền xứ Syri ( Syrie )
    Theo chỉ thị, ông Giuse và bà Maria đã phải tạm biệt thành Nazareth trong xứ Galilêa, để về Bê Lem là bản quán, một thành nhỏ trong xứ Giuđêa, vì ông thuộc về hoàng tộc Ðavít. Việc biên khai đã bắt đầu, nên việc lên đường phải cấp tốc ! Ðang lúc sửa soạn lên đường, bà băn khoăn hỏi ông:
    - Từ đây đến Bê Lem mấy ngày ?
    Ông Giuse thưa:
    - Chừng 4, 5 ngày, chúng ta sẽ đến đó trong tháng này (tháng 12 dương lịch) vào quãng 24 hay 25.
    Bà âm thầm nghĩ: 25 ! Ôi cái ngày tươi đẹp ! Hỡi Gabiên thiên thần của ánh sáng ! Trước đây chín tháng, Người đã hiện đến cùng tôi...Lạy Chúa ! Này tôi dâng mình cho Chúa, tôi vâng ý Chúa, Chúa hãy làm trong tôi những điều Chúa muốn. Tôi cúi đầu tuân phục...Tôi chúc tụng Chúa trong hết mọi sự Chúa định liệu trong đời tôi.....
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  9. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Trên đường Nazareth đi Bê Lem, lững thững hai bộ hành như hai bóng đen trên quãng đường giá lạnh. Giuse và Maria âm thầm lần bước về phương Nam, lòng trí mỗi người gợn lên những kỷ niệm của ngàn xưa.
    Bà hồi tưởng đến Bê Lem thuở trước, cánh đồng lịch sử mà một buổi chiều, hai mẹ con bà Rút ( Ruth ) đã mót lúa lúc hoàng hôn. Ông thì nhớ tới minh hoàng Ðavít một tổ phụ đại danh, đã từng chăn chiên trong cánh đồng tốt cỏ ở đó. Và cách đây mấy tháng, thiên thần đã nói với ông: Giuse con vua Ðavít, đừng ngại nhận lấy Maria làm bạn. Ôi !
    Ý nghĩa biết bao ! Hai người tiếp tục đi, bao luồng tư tưởng chung riêng thay đổi nhau làm cả hai tâm hồn cùng nao nức !
    Kỳ thật, đó là hai vị đại thánh dạo gót ngọc trên trần gian, các thiên thần chiêm ngưỡng đều phải thì thầm khen ngợi:
    "Vị nữ trinh kia là áng mây hồng, mà có tiên tri đã gọi là “Rạng đông đến trước Thái Dương” ( chỉ Chúa Cứu Thế ) và “Người công chính kia là một vĩ nhân siêu việt trong Thiên quốc” ( chỉ Thánh Giuse )
    Ðường thiên lý đã qua. Ðêm về ! Trời mỗi lúc mỗi tối đen, trên tầng cao muôn sao lấp lánh, hẹn hò một giấc nghỉ yên. Hai ông bà vào Bê Lem giữa bộ đón chào của những ngọn đèn mấp máy. Bỗng một luồng gió lạnh vút qua mặt và một câu hỏi hiện lên:
    Chúng ta trọ ở đâu ? Chúng ta cần một phòng ấm áp vì...Ôi ! mà khách trọ nhiều quá !
    Ông Giuse đi gõ cửa nhiều nhà... ông cố tìm ra một nơi ấm cúng hẳn hoi vì ngày Trinh Nữ hạ sinh đã gần. Nhưng tìm không ra ! Các nhà trọ thường chật ních cả, và số tiền ít ỏi của ông bà lại không cho phép hỏi thuê những nơi sang trọng.
    Kỳ thật, trong những ngày như thế, số người tuôn đến Bê Lem rất nhiều, lại còn thêm nào ngựa nào lừa và hàng trăm thứ khác. Giữa chỗ đông đúc hỗn độn như vậy, còn hay có những chuyện tầm phào vương mùi tục tĩu. Nên đối với ông bà thánh thiện này, tìm được một nơi yên tĩnh tiện nghi quả là rất khó.
    Tìm nhà trọ không ra, ông Giuse cảm thấy khổ tâm, bộ tịch ngơ ngác. Ông đứng lặng một hồi lâu... suy nghĩ... Con lừa dường như phân ưu, cũng đứng lặng nhìn ông với cặp mắt tròn xoe. Nhưng ông đổi cử chỉ... ông dắt con lừa bước qua cửa thành ra ngoại ô...
    Không tìm được nơi vừa ý, ông đành tạm trú cho qua đêm trong một hang tự nhiên ở sườn núi đá cách xa thành. Có lẽ là nơi một trạch chủ nào đã sửa chữa qua loa để chứa bò lừa trong những ngày chật khách. Ở Balêtin ( Palestine ) có nhiều hang như thế lắm và trạch chủ hay xây một tường sơ sài che trước cửa để tạm dùng khi có việc. Nói theo nghĩa rộng, những hang đó cũng có thể làm nơi tạm trú.
    Ðứng bên hang, hai ông bà cảm thấy ngậm ngùi, ân hận vì ngày Thánh Tử sinh ra đã đến. Bà nhìn ông. Ông nhìn bà, bốn con mắt đều long lanh, hai tấm lòng cùng se lại !
    Nhưng biết làm sao được ? Thôi cũng xin vâng... Vâng theo ý nhiệm mầu của Chúa .
    Những cung điện nguy nga, những tòa nhà lịch sự, những nơi ấm áp, đã khước từ Thiên Chúa, đã xua đuổi Ngài, nên quả thực, Ngài đã ban cho hang Be Lem khó hèn được danh dự đón Ngài trong giờ Ngài ngự đến.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  10. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Thốt nhiên, giữa đêm giá lạnh, không một dấu hiệu báo trước, không một quặn đau, Trinh nữ đã sinh hạ một hài nhi tuấn tú.
    Ðó là Chúa Cứu Thế thiên hạ đợi trông.
    Ánh sáng thâu qua thủy tinh không làm cho thủy tinh tan vỡ, trái lại cần làm cho thủy tinh huy hoàng rực rỡ. Cũng giống thế, Ngôi Hai Thiên Chúa từ lòng hiền mẫu nhô ra ánh sáng dương gian, không làm cho Mẹ Ngài mất trinh và đau đớn, trái lại càng làm cho Người thêm vinh.
    Trước cử chỉ yêu thương của Thiên Chúa tượng hình bằng Hài Nhi đó, Trinh nữ vô cùng cảm động để mấy giọt lệ chảy trên má.... Người sấp mình xuống thờ lạy, rồi hai tay run run ẵm Hài Nhi lên ngực hôn hồi lâu... hôn nồng nàn tha thiết, và lấy chiếc khăn nhỏ bọc Hài Nhi rồi đặt xuống máng cỏ, nơi ông Giuse đã hết sức dọn dẹp cho hẳn hoi hơn.
    Hai ông bà gối quì tay chắp thờ lạy Ðấng mà cả hai biết rõ là Thiên Chúa, cám ơn Thiên Chúa thay cho nhân loại và cầu khẩn thở than những điều chỉ một Thiên Chúa thấu hiểu... Ra như hiệp ý tâm đầu, bọn chiên lừa ở đây mạnh bạo thở hơi ấm và đăm đăm nhìn Thánh Tử hiện xuống trần gian.
    Thế là hang Bê Lem, chỗ trú trọ của bò lừa đã hóa nên cung điện của Ðấng Tối Cao, Chúa muốn gởi thân trong hang bò lừa nơi thấp hèn, chật hẹp và hôi tanh để lên án tính kiêu xa, phóng túng và tham thanh chuộng lạ của thế giới.
    Chúa sinh ra lúc đêm khuya đang khi nhân loại vùi dưới giấc ngủ nặng nề, để thức tỉnh những tấm lòng say đắm.
    Chúa xuống trần gian giữa trời rét lạnh, tối om để sưởi ấm đem vui cho những linh hồn sầu khổ, và soi sáng những trí óc ngu si.
    Chúa muốn ra đời chốn Bê Lem, nơi hoang vu coi như vô chủ, nơi thanh vắng không một bóng người, để Ngài trở nên báu vật của mọi người, và nên bạn hữu luôn luôn bên cạnh muôn triệu linh hồn khắp bốn phương.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  11. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Bước Tới Bê Lem
    Mấy giờ sau rét lạnh dịu dần.
    Chung quanh Bê Lem, có tiếng động, rõ là tiếng chân người bước xen lẫn với tiếng chiên kêu... Trước con mắt bỡ ngỡ của hai ông bà, một tốp người bế chiên đã tiến đến.
    Nguyên ở phía Ðông Bê Lem mỗi đêm có những người chăn chiên thức giữ chiên. Họ là một trong những nhóm dn du mục, quê hương vô định, nay chỗ này mai chỗ khác tùy theo sức lôi cuốn của cánh đồng ruộng cỏ bao la và sự an ninh của sứ sở. Họ thích tung tăng giữa cảnh tịch mịch thiên nhiên, và gởi mình vào giấc ngủ êm đềm dưới ánh trăng, mặc cho mưa sa gió lộng.
    Ðêm ấy đang trò chuyện vui vẻ chung quang một ngọn lửa đầm ấm, bỗng họ thấy lóe ra một tia sáng lạ ở không trung. Họ chưa hết sợ hãi thì đã bị một vùng quang tuyến huy hoàng bao phủ. Trong vùng quang tuyến đó hiện rõ bóng một Thiên thần. Cả bọn đều hoảng sợ. Họ tưởng chừng sẽ chết chìm trong ánh sánh, vì họ nghĩ rằng chẳng ai giáp mặt được Ðức Yavê ( Ðức Chúa Trời ) mà không bị chết. Nhưng giọng điệu êm đềm, sứ thần Thiên Chúa đã đưa tin:
    Các ông đừng sợ, Tôi đến đây để báo tin mừng, là ở Bê Lem quê hương vua Ðavít, đã sinh ra chính Ðấng muôn dân trông đợi. Ðó là Chúa Cứu Thế.
    Tiếng Thiên thần dội xuống dịu ngọt và êm vui ! Bọn chăn chiên cảm thấy thế họ lại mừng, tâm hồn bình tĩnh. Ánh sáng huy hoàng kia đã xuyên qua làn áo lông cừu của họ và thấm tới tâm hồn họ. Nhưng từ không trung lại vọng ra một lời khiến họ bỡ ngỡ:
    Và đây là dấu các ông sẽ nhận biết Chúa Cứu Thế, các ông sẽ thấy một hài nhi bọc trong chiếc khăn, nằm trên máng cỏ.
    Những người chăn chiên chưa kịp trấn tỉnh. Hai tiếng “máng cỏ” vẫn vọng dư âm...
    Thoát chốc tầng trời rộng mở, nhả từng đoạn hình tượng sáng láng tung hào quang xua đêm tối. Ðó không phải là một Thiên thần nữa nhưng là số đông thiên thần hiện ra ca hát...
    Có lẽ đó là những thiên thần thuộc nhiều cấp, đêm nay xuống hát mừng Chúa mới sinh ra. Không có đêm nào đẹp như đêm Giáng Sinh, một đêm đầy ánh sáng, tầng không yên tĩnh rộn tiếng thiên thần ca vui ! Tiếng hát du dương cứ vọng đi vọng đi xa và lên cao mãi, khiến bọn chăn chiên mừng vui ngây ngất... Trong bao lời ca ấy, họ còn nhớ rõ được mấy câu:
    “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm “
    Ðêm tối trở lại . Nhưng tâm linh của những người chăn chiên đã sáng ngời lên. Họ tin lời thiên thần và quyết định đi thờ lạy Chúa Cứu Thế. Họ bàn định nhau:
    Chúng ta hãy chạy mau tới Bê Lem, để chứng kiến điều Thiên Chúa thương mạc khải.
    nhanh chân, họ đã tới Bê Lem, họ tiến vào hang đá.

    Hang đó không giống cái trụ quán nhỏ xinh xinh và nhẹ nhàng mà các họa sĩ thường vẽ trong dịp Giáng Sinh. Nó cũng không giống cái máng cỏ bằng thạch cao của người bán ảnh tượng bày ở cửa phố. Nghĩa là nó không sạch sẽ sáng sủa và thứ tự, một bên có bò lừa thở ấm, một bên có 3 Vua áo mũ uy vệ quì chầu, trên có số đông thiên thần bay lượn, xướng ca, giăng dài một biểu ngữ với những câu cao ý. Không ! Hang đá kiểu như thế là hang đá tưởng tượng, chỉ để mơn trớn những tâm tình hiếu cảm.
    Hang đá ở đây, là một chuồng chứa súc vật. Nó thiếu cả cột kèo và hiên mái, nó không được hào nhoáng như những tàu ngựa ngày nay. Nó là một hang đá theo đúng nghĩa, tối tăm khó thở và nặc mùi hôi tanh ! Tuy nhiên người chăn chiên chất phác đã không ngần ngại bước thẳng vào, vì trong trí họ vẫn văng vẳng tiếng thiên thần chỉ bảo.
    Họ thấy ông nhà quê ( Thánh Giuse ) mắt đăm đăm ra chiều ngây ngất, một hài nhi bọc trong khăn nằm trên máng cỏ và một thiếu phụ mặt cúi sát xuống Hài Nhi, đang mỉm cười sung sướng....
    Lòng họ hồi hộp tan chảy như sáp ong gần lửa. Nhờ ơn trên soi sáng, họ nhận biết Hài Nhi đó, bề ngoài yếu ớt rét run và giống hệt trăm nghìn kẻ khác, nhưng bên trong là chính vị Cứu tinh của muôn dân. Họ thụp xuống thờ lạy hồi lâu...Họ yêu mến kính tôn Ngài và dòng lệ từ từ chảy....Họ thương Ngài vô cùng, vừa trìu mến vô biên...
    Theo lệ đi thăm người “sản phụ” họ mở bao đem dâng ít sữa, dăm ba quả trứng, và một nắm lông chiên. Bà Maria vui vẻ nhận, tỏ bộ cám ơn.... Họ thi nhau thuật lại tỉ mỉ quang cảnh lạ mới gặp, và bà Maria sung sướng nghe họ kể.
    Rồi đêm hết, hừng đông chổi dậy....
    Cả bọn chăn chiên rút lui. Họ vào thành và trong các lữ quán, kể kại sự hiển linh ban đêm với mọi chi tiết tỉ mỉ họ đã xem thấy về Hài Nhi phi thường, khiến các người nghe phải bỡ ngỡ.
    Nhưng có tiếng bình phẩm: Chuyện ấy làm gì có, Chúa Cứu Thế mà lại sinh trong hang bò lừa ở dọc đường do một thiếu phụ vô danh ư ? Chả nhẽ có thể thế được ?
    Riêng về phần Maria, bà khắc cốt minh tâm mọi điều đã nghe biết và ngày ngày suy đi gẫm lại.
    Các người chăn chiên đã được chứng kiến việc ly kỳ, họ cũng hết sức tin tưởng cuộc hiển linh kia có thật. Họ an tâm trở về với đoàn chiên, và ca tụng Thiên Chúa về cái đêm phúc đức ấy....
    Tám ngày sau, Hài nhi chịu phép cắt bì. Trong dịp đó ông Giuse theo sứ thần đã dặn, đặt tên cho Thánh Tử là Giêsu nghĩa là “Chúa cứu chữa chúng tôi”
    Ðó là một thánh danh ý nghĩa cao sâu, bao hàm cái chương trình “cứu thế” Nhưng đến lúc khai trình để biên vào sổ, người ta lại cười hai ông bà là ngớ ngẩn:
    - Làm sao một hài nhi đẻ bên vên vỉa đường trong một đêm giá lạnh, lại đặt tên là “Chúa cứu chữa chúng tôi “.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  12. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Ðau Khổ: Mũi Gươm Sắc Bén !
    Lịch sử Do Thái loang lỗ những vết đen, và cuộc bị đày làm nô lệ bên Ai Cập là vết đau thương hơn hết ! Hồi ấy vua cai trị Ai Cập là Pha-ra-ông ( Pharaoh ) ác độc hơn sư tử. Ðể chu diệt giống nòi Do Thái, ông hạ lệnh sát hại các hài nhi Do Thái mới sinh ra bằng cách dìm chết dưới sông Nilô ( Nile ) Với ác kế đó, Pha-ra-ông nghĩ không bao lâu Do Thái sẽ tuyệt chủng. Nhưng số Do Thái hãy còn may, nhờ Thiên Chúa mà hài nhi Môi Sen ( Mose) đã được cứu thoát.
    Môi Sen lớn lên, thông minh xuất sắc, được Chúa ủy nhiệm làm tướng dẫn dân Do Thái về quê cha đất tổ. Cuộc vận động đem dân đi gặp nhiều trắc trở gay go.... Mãi cho đến khi Chúa phạt chết trưởng nam Ai Cập, Pha-ra-ông mới chịu buông tha Do Thái.
    Ðể kỷ niệm cứu thoát ấy, ông Môi Sen truyền để một điều luật: Từ nay trở đi, các con trai đầu lòng sẽ coi là người đã tiến dâng cho Chúa. Nghĩa là suốt đời phải chuyên lo việc tế tự.
    Nhưng dần dần số trưởng nam thêm ra nhiều, người Do Thái liền nghĩ cách cử nguyên một đại tộc Lêvi làm việc tế lễ, mỗi nam tử Lêvi thay thế một trưởng nam Do Thái. Nhưng trong lúc áp dụng, số nam tử Lêvi không cân với số trưởng nam của toàn dân. Nên họ lại lập ra luật “ dâng chuộc “ nghĩa là phải dâng trưởng nam trong Ðền Thánh rồi chuộc lại bằng một số tiền cúng vào Ðền Thờ. Số tiền này họ Lêvi có quyền xử dụng
    Tục lệ “dâng con, chuộc con” bắt đầu từ đó và ăn sâu vào phong tục. Mỗi trưởng nam phải là người đã được tiến dâng. Và phụ huynh nào muốn giữ con ở lại gia đình, đều phải đem tiền chuộc.
    Ði đôi với luật “dâng con” các sản phụ sau ngày 40 ( Nếu sinh con gái, thì qua 80 ngày mới vào
    Ðền Thờ chịu lễ “Thanh tẩy:” ) cũng phải dâng mình trong Ðền Thánh. Lễ “dâng mình” này còn gọi là lễ “Thanh tẩy”, vì theo ý hẹp của luật cũ, người sản phụ bị coi là người nhiễm uế. Khoản lệ thanh tẩy là dâng một con chiên được một năm, hay nếu nhà nghèo không mua chiên được, thì dâng một đôi chim bồ câu (xem Levi 7: 8 )
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  13. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Vậy theo tinh thần Luật, đến ngày Thanh tẩy, Bà Maria từ giã Bê Lem, ẵm Hài Nhi Giêsu vào dâng trong Ðền Thánh. Con đường lên Jêrusalem, là đường cái quan rộng rãi thênh thang, đắp theo kiểu La Mã, lúc sáng hơi văng vắng, nhưng đến trưa lại rất náo nhiệt tấp nập kẻ đi người lại. Vừa ở một khúc quặt ra, hai ông bà được chiêm chiêm Ðền Thánh. Ðó là một núi cẩm thạch muôn màu, hiên ngang vươn mình lên trời thẳm. Xem thấy Ðền thờ, hai ông bà kính cẩn đọc thiên thánh vịnh của những người đi hội Ðền thánh:
    Jêrusalem ! Jêrusalem !
    Này chúng ta đang tiến lên cùng Ngươi. Chúng ta tiến lên cùng Ngươi.
    Tiền đình Ngươi là chốn hẹn hò. Dáng điệu ngươi là châu thành hoa lệ.
    Người muôn dân, Người muôn nước.
    Hướng về Ngươi, hướng về Ngươi.
    Thân Ngươi là ái tình vô biên. Tháp Ngươi là kho tàng vô tận.
    Ai yêu Ngươi, ai trọng Ngươi. Sẽ vinh quang phú túc.
    Hai ông bà đã vào Ðền thánh ở gian Tiền đình, nơi bán chiên bò, chim câu và đổi tiền bạc. Bước qua cái thềm mười năm cấp nữa, hai ông bà tiến thẳng lên trước một cửa lớn gọi là “Nicanor” chờ đợi....
    Mặt trời đã lên cao.... Một thầy chủ tế lụng thụng bước ra nơi hành lễ. Các sản phụ bế con lần lượt tiến lại.... Thầy chủ tế theo thứ tự đọc kinh hành lễ trên từng con trẻ, không ngờ trong số đó có ẩn một hài nhi dị thường. Ðó là con của bà Maria, vị Cứu Tinh nhân
    loại, Chúa của muôn dân. Nhưng thầy không quên nhận mấy con chiên non, mấy đôi chim câu và một số tiền chuộc do các sản phụ dâng cúng.. Thế là một ngày muôn đời trông đợi, một ngày Chúa Cứu Thế và thân mẫu Ngài dâng mình trong Ðền thánh, đã âm thầm trôi qua như nước dưới cầu, trước con mắt mù quáng của thế gian và vẽ lãnh đạm của giới Giảng Hội (Sinagognes: chỉ dân Do Thái)
    Thực ra, Chúa Giêsu không sinh ra theo luật thường, nên thân mẫu Ngài cũng không buộc phải thanh tẩy trong Ðền thánh. Tuy nhiên, bà Maria cũng vâng lời Lề Luật, bà muốn xử xự như một thường nhân trước mắt thế gian để che dấu một kho tàng quý giá là đức trinh khiết.
    Hài Nhi Giêsu đã được trao lại cho bà Maria, bà ẵm chặt lấy và hôn yêu nồng nàn như muốn bù lại vẽ lãnh đạm của người đời đối với con mình là Chúa Cứu Thế.
    Nhưng rồi một sự lạ xảy ra !
    Hồi ấy ở Jêrusalem có một ông già, quí hiệu là Si-mê-on (Simeon) Ông nổi danh về đường đạo đức, ông vẫn tuyên bố rằng ông chờ đợi Ðấng Cứu Thế. Vì Chúa Thánh Thần đã mạc khải cho ông: Ông sẽ không về già trước khi được xem thấy Ðấng chịu xức dầu (chỉ Chúa Cứu Thế) của Thiên Chúa.
    Hôm ấy tự nhiên một thiên lực thúc đẩy ông lên Ðền thánh vào lúc thân phụ Giêsu ẵm Ngài đến đó để thụ lễ theo Lề Luật. Ở đó, do ơn thiên ứng, ông khám phá ra Ðấng ông trông đợi. Ông xin ẵm Hài Nhi Giêsu vào cánh tay và ca bài tán tạ Thiên Chúa:
    Lạy Chúa ! Chúa có thê cho tôi tá Chúa đi
    Ði về chỗ an nghỉ của ngàn thu của tuổi già !
    Hôm nay mắt tôi được xem thấy Chúa Cứu Thế
    Ðấng mà Chúa đã tiền định cho muôn dân
    Người quả là Ánh Sáng của mọi chủng tộc..
    Và là vinh danh dân Isreal dân riêng Chúa.
    Nghe lời ông già, thân phụ Hài Nhi lấy làm lạ lùng hết sức ? Sao ông lại biết Hài Nhi là Chúa Cứu Thế của muôn dân ? Nhưng diện mạo ông già đang tươi sáng, bỗng tối sầm lại... Mắt đăm chiêu vào cõi xa xăm. Ðứng trên bờ hiện tại ông nhìn vào tương lai với hai luồng tư tưởng phản nghịch nhau. Ông vừa trả lại Hài Nhi cho Mẹ Ngài, vừa chậm rãi nhấn mạnh từng tiếng một:
    “ Bà hãy chiêm nghiệm Hài Nhi đây.
    Người sẽ trở nên con đường “Sinh” cho một số lớn..
    Nhưng cũng trở nên con đường “Tử” cho nhiều người
    Người sẽ là giới trụ phân chia thế giới.
    Ðể phát lộ thanh tâm ẩn ý của mọi người “
    Rồi ông quay sang nói với bà Maria:
    “ Riêng phần Bà, một lưỡi gươm đau khổ sẽ thâu qua trái tim Bà ! “
    Nói xong, ông già Si-mê-on trở bước. Bóng ông khuất sau những rặng cột đồ sộ của Ðền thờ. Cảnh vật trong đó vẫn y nguyên, vô tình, lãnh đạm, trong khi đàn lòng một người mẹ nổi khúc bi ai. Những lời tiên tri của ông già đã đào sâu trong trái tim bà Maria một hố lo lắng. Một sự gì cao cả tươi sáng ấm áp như ánh xuân đã vụt tắt trong lòng Bà, để nhường chỗ cho một sự gì tối tăm, u sầu và giá lạnh ! Phải ! Mặt trời hạnh phúc trong cõi lòng bà Maria đã bị lời tiên đoán của ông già Si-mê-on giăng mây sầu che khuất !!
    Giờ đây trái tim bà tan nát. Bà đứng sững mãi một nơi đưa mắt nhìn Hài Nhi đang ngủ mà tâm trí vẫn lởn vởn hình một thanh gươm sắc nhọn phân Hài Nhi ra trăm mảnh. Bà thương Hài Nhi quá, càng thương, trái tim bà càng se lại, bứt rứt... Mũi gươm kia là gì ?
    Sao người ta lại muốn giết Hài Nhi ? Giết cách nào ? Hài Nhi có tội gì mà giết ? Một trăm dấu hỏi như thế khuấy rộn tâm hồn Bà ! Bà đau đớn, vì không có một câu trả lời nào rõ rệt cả. Bà cảm thấy khổ sở, muốn khóc lên trong khi trái tim Bà như nhỏ từng giọt máu !
    Sau ông Si-mê-on, lại có bà quả phụ tên Anna Phanuel thuộc dòng tộc Aser. Số phận bà này hẩm hiu, đời kết bằng tang tóc, Bà phiền sầu vì kết bạn mới được bảy năm, chồng đã về kiếp khác. Cảm thấy cô đơn lẻ bóng, bà đã xa trần lụy nương mình nơi Cửa Thánh, để tìm cho cảnh đời một ý nghĩa. Bây giờ bà đã tiến xa trên đường thánh thiện. Cả ngày chuyên chủ việc hãm mình đánh tội và cầu nguyện trong Ðền Thờ, Bà được ơn biết cả việc tương lai. Hôm ấy, sau ông Si-mê-on, Bà được vinh dự gặp Chúa Hài Nhi Giêsu.
    Và do ơn trên soi sáng, bà cũng biết Hài Nhi đó là Chúa Cứu Thế. Bà vui sướng quá và công khai tán tạ Chúa một cách vô cùng cảm động... Từ đấy trở đi, bà không bỏ mất dịp nào mà không nói về Hài Nhi Giêsu cho mọi người ở Jêrusalem biết. Và những người nghe đều vui mừng hy vọng vào cuộc “cứu rỗi” sắp đến.
    Hai ông bà Giuse Maria đã ra khỏi Ðền thờ, trà trộn vào đám đông, đám những người đi dâng con cho Chúa. Hai ông bà là thường nhân, y phục khó nghèo, nên không ai ở Jêrusalem để ý đến. Hai ông bà lại theo đường cũ trở về Bê Lem, vì ông Giuse muốn hoãn lại dăm ba tuần nữa mới đi Nazareth. Ông nghĩ: Hiện giờ Hài Nhi và thân mẫu Ngài còn mệt nhọc, chưa nên đi đường xa. Trong khi chờ đợi, ông tạm tìm việc để chàng đục ( thợ mộc ) để có thể đem lại ít lương thực cần dùng.
    Ở Jêrusalem tất cũng có nhiều người được nghe ông Simêon và bà Anna thuật chuyện Hài Nhi. Nhưng bây giờ gia đình vô danh đó biết ở đâu mà tìm nữa, vã lại cũng chẳng mấy ai tin lời của hai nhà đạo đức kia.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  14. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Chúng Tôi Ðã Thấy ...
    SAO LẠ CỦA NGÀI....
    Trong khi bà Maria còn nặng mối lo âu, tưởng tượng thanh gươm ác độc ông già Simêon mới cho biết. Thì từ chân trời phía Ðông, một đoàn người quyền quý đang vượt rừng xanh núi đỏ tiến về Bê Lem để thờ lạy Thánh Tử. Ðó là những nhà chiêm tinh của Ðông phương, tục gọi là “Ba Vua” ( Theo lời cổ truyền, Ba Vua thuộc dòng quý tộc ở nước Ba Tư, Babylon, hay Á Rập. Quí hiệu của Ba Vua là Gaspard, Melchior và Balthazar. )
    Sở dĩ tôn xưng như vậy, là vì một đàng không phải là hạng phù thủy bói khoa thường trơ mặt ở các vỉa đường trong thành phố, và một đàng khác, các nhà chiêm tinh đó có quyền cao chức trọng trong xã hội, và là bậc thông thái hay là danh y biệt tài, đang làm hay đã làm Tiểu vương một xứ...
    Ở Ðông phương, trời ban đêm nhiều hôm đẹp lạ thường và lấp lánh sao hơn ở Tây phương. Những buổi đẹp trời như thế, các nhà chiêm tinh thích vui cái thú ngắm sao với chén rượu nồng, để đoán biết tương lai và số mệnh. Ba Vua trong truyện này cũng là những kiệt tướng trong thuật chiêm nghiêm ấy. Nhờ cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc gần nhau. Ba Vua biết rõ đạo Do Thái và ý họ mong đợi Chúa Cứu Thế đến để khai sáng một hoàng kim thời đại. ( Người Do Thái tin tưởng rất mạnh và hy vọng rất nồng nàn Chúa Cứu Thế sẽ đến. Lòng tin tưởng đó đã tràn lan qua các nước lân cận, và sang tận Tây phương, khiến Ciceron và Virgile cũng phải nói về vị Cứu Tinh Do Thái mong đợi. Ciceron viết: Sẽ có một tướng tối cao, vừa là thầy vừa là vua muôn dân sinh ra, Ngài sẽ tuyên bố một Luật bất di bất dịch (De Divinatate L.II – 134)


    Ba Vua cũng biết câu tiên tri của Baalam (Baalam): “Một ngôi sao sẽ mọc trong nhà Giacóp (Jacob) Ngôi sao đó là dấu hiệu một Ðại vương”
    Một đêm kia Ba Vua đang ngắm sao, xét một biến chuyển thế giới theo những nét mờ của vòm trời, bỗng hiện ra ở xứ Giuđêa một tia sáng lạ, có hình sao chổi đuôi dài. Ðó là một ngôi sao chưa từng thấy. Một cảm giác mạnh chạy ran trong thân thể của Ba Vua, đồng thời những luồng tư tưởng khác nhau đột nhập lý trí. Ba Vua suy nghĩ mãi.... Sau cùng do nguồn ơn thiên ứng, Ba Vua mới đi đến một kết luận là Vua Do Thái đã giáng sinh. Không do dự nữa, Ba Vua quyết định lên đường tìm cho đến tận Jêrusalem là Thành Thánh của Do Thái để thờ lạy Ðấng Cứu Thế mới sinh ra.
    Ba Vua lên đường, đoàn tùy tùng theo sau, ngựa lừa đông số. Mọi người vui vẻ bước mau dưới ngôi sao lạ dẫn đường. Ba Vua càng vui hơn, tâm hồn ấm áp vì mộng đẹp. Ðúng rồi ! “Ðại vương ông Ðaniên (Daniel) nói tiên tri đã hiện ra. Ta quyết đi, ta quyết tìm Ngài để suy tôn thờ lạy. Có sao sáng chỉ về Ngài, thì âu Ngài cũng là một Áng Sáng, hay là chủ tể của ánh sáng ! Ngài tốt đẹp và cao trọng biết bao !”
    Ba Vua tới thành Jêrusalem, nơi có cung điện vua Hêrôđê. Thoát chốc ánh sáng hình sao chổi đuôi dài biến mất... Ba Vua vào thành dò hỏi.
    Vua Do Thái mới sinh ra ở đâu ? Vì chúng tôi đã thấy sao lạ chỉ về Ngài mọc bên trời Ðông, và chúng tôi đến đây để bái yết Ngài.
    Bọn thám tử của vua Hêrôđê ở rải rác trong thành, thấy người quyền quý ở xa đến và đưa ra câu hỏi kỳ diệu, liền chạy vội về báo tin cho vua Hêrôđê và tường thuật mọi sự.
    Vua này nghe tin như thế, lấy làm bối rối hoang mang. Và dân thành Jêrusalem cũng vậy.
    Thời ấy nói đến Hêrôđê, không ai mà không biết tiếng. Người ta gọi Hêrôđê là một bạo chúa khét tiếng, hay là một yêu quái ngồi trên ngai !
    Sau khi phạm một chuỗi tội ác: giết chúa, giết anh, giết vợ, Hêrôđê đâm mê hoảng. Ông tìm cách tiêu sầu giải muộn bằng lối phô trương. Ông truyền xây ở Jêrusalem một điện lộng lẫy ngang với điện Ba-la-đinh ( Palatin ) ở LaMã. Trong điện đó, nguyên phòng ngự ẩm, có tới một trăm giường bằng ngà, ấy là chưa kể chiếc long sàng bằng vàng khối.
    Hêrôđê quả là ông vua xa xỉ. Lần kia sứ thần La Mã tới Jêrusalem, cũng phải kêu lên “Xứ Giuđêa quả là bé cho người vĩ đại này”
    Nhìn chung quanh, Hêrôđê thấy mình đang ở giữa đường nguy khốn ; một mặt bị Do Thái ghét, một mặt bị La Mã rình mò. Nên muốn lấy lòng dân, ông truyền xây đền thờ Jêrusalem lại với vẻ cực kỳ rực rỡ. Sau việc kiến trúc này, dân tặng cho ông chữ “Magnus” nghĩa là “Ðại Nhân”. Ðồng thời để mua lòng vua thượng vị Âugút (Auguste)
    Ông cũng truyền đặt ở giữa cửa Ðền thờ, một con Phượng Hoàng bằng vàng, là tiêu biểu đạo binh La Mã. Bốn mươi thanh niên Do Thái thấy vậy, tức khí trèo lên hạ con phượng hoàng La Mã xuống. Hêrôđê tức quá, lại lo thất thế với La mã, cùng bốc giận đùng đùng, hạ lệnh đốt sống đám thanh niên kia như bó đuốc sống trước những tượng thần La Mã.
    Lại nói về tin Ba Vua làm chấn động kinh thành, ở khắp phố dân chúng xôn xao, có tiếng thì thào hỏi nhau bàn tán: Thế nào ? Hay một danh tướng mới sinh ra ? Sinh ra để hạ Hêrôđê quân ngoại chủng xuống ?... Cũng có người nghĩ: Thôi đích rồi ! Hay đó là Chúa Cứu Thế dân ta mong đợi.
    “Chúa Cứu Thế” Danh từ này thời ấy thường được nhắc tới luôn luôn, vì các lời tiên tri về Chúa Cứu Thế đã ứng nghiệm cả, và nó lại tượng trưng cho lòng dân một vấn đề có tính cách tôn giáo lẫn chính trị. Nó hình dung một cuộc giải phóng dân khỏi ách đế quốc La mã và hứa hẹn một kỷ nguyên mới vinh quang, nên nó mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Do vậy, được tin khẩn báo, lại thấy dân chúng xôn xao. Hêrôđê liền truyền họp một hội đồng bất thường gồm các đạo trưởng và tiến sĩ luật của dân để dò hỏi cho biết Chúa Cứu Thế sinh ra đời.
    Câu hỏi của nhà vua không làm các nhà trí thức Do Thái bối rối, nó chỉ nhuốm một vẻ bí mật. Theo dư luận của dân, khi Chúa Cứu Thế đến, người ta không biết được đích xác chỗ phát tích của Ngài. Ngài sẽ sống ẩn dật lâu lâu, rồi một ngày đẹp trời, Ngài mới ra ánh sáng một cách tưng bừng náo nhiệt. Lúc ấy ông Elia thứ hai long trọng giới thiệu Ngài với dân và đổ dầu thánh trên đầu Ngài, thứ dầu quen dùng để phong vương. Ðó là đại khái những điều dân chúng nghĩ tưởng về Chúa Cứu Thế.
    Ðối với giới trí thức Do Thái, họ còn biết rộng hơn. Họ biết rõ Chúa Cứu Thế sẽ sinh vào gia đình vua Ðavít. Thế mà Ðavít phát tích ở Jêrusalem, như lời ông tiên tri Mi-kha đã để lại. Nên Chúa Cứu Thế cũng phải sinh ra ở đó. Do vậy, sau một cuộc bàn luận không lâu, họ đã cử một đại biểu đứng lên, thưa thay hội đồng với nhà vua:
    “ Chắc chắn Chúa Cứu Thế sinh ra ở Bê Lem xứ Giuđêa. Vì có lời tiên tri chép rằng:
    Hỡi Jêrusalem trong đất Giuđêa người không phải là nơi bé nhỏ trong các đô thị xứ Giuđêa, vì do ngươi sẽ xuất hiện một danh tướng để thống trị dân ta, dân Israel. “
    Nghe câu trả lời Hêrôđê thỏa thích như cởi được tấm lòng, trút được gánh nặng, nhà vua cho hội đồng giải tán và ngẫm nghĩ:
    “Bê Lem cái thành nhỏ xíu, cách cung điện ta không có bao xa, có gia đình nào tô quý đâu ? Còn về dòng dõi Ðavít thì hiện giờ không có gì quan hệ nữa. Những mầm mống sau cùng của gia đình đó đã mất tăm từ lâu trong dân, vậy hẳn những chuyện chiêm tinh kia với lời tiên tri nọ cũng là trò hề cả. Tin là tự giảm giá trị mình và còn bị thiên hạ cười chê “
    Nghĩ vậy đấy, nhưng ông vua đa nghi cũng muốn gặp 3 nhà chiêm tinh một lần nữa để hớt sạch cái váng do dự còn lại. Vì thế, nên ông cho mời Ba Vua vào mật hội, điều tra kỹ lưỡng về thời giờ sao lạ đã hiện ra. Ðiều tra, Hêrôđê cũng chỉ thấy rằng đó là một phát hiện tối cận chung quanh một Hài Nhi mới sinh ra, chả cần đến nỗi phải cho thám tử theo gót mấy nhà tướng số xa lạ nữa. Nên ông vui vẻ và với giọng gần như mỉa mai nói với ba nhà chiêm tinh:
    “Kìa là phía Bê Lem, các ngài cứ lên đường. Các ngài chịu khó điều tra cho ra con trẻ đó. Khi nào các ngài thấy rồi, phiền các ngài trở lại đây báo tin cho ta hay, ta cùng đi gọi là để tiến cống”
    Cáo biệt Hêrôđê ba vua lại lên đường....
    Bê Lem chỉ cách Jêrusalem có mấy dặm..... Trời vừa tối. Bỗng sao lạ đã chiếu sáng bên trời Ðông (Nhiều nhà thiên văn cho sao đó là sao đài thiên văn, ở Jêrusalem đã xem thấy tháng 1 năm 1910 gọi là sao chổi Holley. Nó đi từ Ðông sang Tây. Nó tắt đi mấy hôm, rồi hiện ra lấp lánh rực rỡ.) lại hiện ra lấp lánh dẫn đường đi. Ba Vua mừng hớn hở, bước mau theo ánh sao lạ hướng về phương Nam. Ðột nhiên sao dừng, đứng sững trên một căn nhà nhỏ. Ba Vua bỡ ngỡ, nhưng vẫn tin theo, mạnh bạo bước vào nhà, gặp thấy ở đấy Hài Nhi Giêsu với Mẹ Ngài là Bà Maria.
    Lúc ấy ông Giuse và bà Maria không ở trong hang nữa, vì đã tìm được một nơi khác trú trọ. Nơi đó là một căn nhà nhỏ thuê với một giá hạ, để tạm trú cho qua ngày. Nhưng cảnh tiều tụy bé nhỏ không làm lung lạc đức tin của Ba Vua, một đức tin vững chải như bàn thạch và dẫy núi. Trái lại, với ơn trên soi sáng, Ba Vua hiểu biết Hài Nhi đó chính là Chúa Cứu Thế.
    Ba Vua liền kính cẩn phủ phục suy tôn...
    Phần bà Maria, thoạt tiên bà cũng ngạc nhiên về việc ba người quyền quý vào nhà. Nhưng rồi định tâm được ngay. Bà để cho Ba Vua được tự do kính lạy, trong bụng chỉ thầm nhẩm lại lời của sứ thần xưa: “Chúa sẽ ban cho Thánh Tử ngai vàng vua Ðavít” và lời ông già Simêon “Hài nhi này sẽ trở nên ánh sáng soi cho muôn nước”
    Theo tục lệ Ðông phương, người ta không đến thăm người vị vọng với hai bàn tay trắng. Nên thờ lạy rồi, Ba Vua mở bao lấy vàng, nhủ hương, mộc dược tiến dâng cho Chúa... Và Ba Vua cảm thấy hoan hỉ vô song, tâm hồn như bừng sáng, mọi ước nguyện đều thỏa mãn..... Nhưng ngoài trời mỗi lúc mỗi tối thêm, mấy căn lều vải đã căng lên gọn gàng đón sẵn. Ba Vua và đoàn tùy tùng cùng đi ngủ, định sáng mai lúc còn sương mờ, sẽ trở lại Jêrusalem, thuật cho Hêrôđê biết việc khám phá đã thành công may mắn.
    Nhưng chợt tỉnh dậy, ai nấy đều kể cho nhau nghe giấc mộng ban đêm, và nhận rằng trong lúc ngủ đã được ý trên cho biết không nên trở lại lối cũ, về với Hêrôđê nữa. Nên hừng đông vừa rạng, Ba Vua liền cấp tốc lên đường theo một lối khác trở về quê hương. Lối khác này có lẽ là con đường phía nam Biển Chết.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  15. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Thánh Gia Trên Ðường Lưu Lạc ...
    Lời tiên tri của ông Simêon không bao lâu đã ứng nghiệm.
    Trong lúc trẩy đi, Ba Vua được lệnh Hêrôđê phải trở về thuật lại. Nhưng cứ lời dặn trong giấc mộng, Ba Vua không thể theo ý Hêrôđê, và đã đi lối khác trở về quê quán. Thói thường, những ai hung ác, hơi bị phật ý là tìm cách báo oán. Hêrôđê nghe bọn nịnh thần nói ba nhà chiêm tinh đã chủ tâm lỗi lời sai hẹn, ông liền nổi giận bừng bừng mặt mày nóng ran, ông bực tức với cái ý nghĩ: Có lẽ họ phản mình, họ chủ tâm nhau bầu một người lên chiếm vị và che dấu dưới cái danh từ “Chúa Cứu Thế” Biết đâu sự thật không phải là mở đầu một cuộc cách mạng. Cách mạng, ừ cách mạng ! Mà cái đó ta phải bóp chết ngay còn trong thai và dìm trong vũng máu ! Ý nghĩ đó càng rõ rệt và thêm mạnh mẽ. Theo đà nghi kỵ, Hêrôđê hạ lệnh cho cảnh binh riêng của ông phải tới ngay Bê Lem và những vùng chung quanh, giết cho sạch mọi hài nhi từ hai tuổi trở xuống theo như ngày giờ ba nhà chiêm tinh đã nói về ngôi sao lạ hiển hiện.
    Sắc lệnh truyền đi, quan sát nhân bắt tay vào việc. Một số nam nhi ( trẻ con nam ) đã bị làm mồi cho những lưỡi gươm tàn nhẫn, làm các sản phụ mất con đau đớn như điên như dại, than khóc dậy trời. Lời ông Giêrêmia nói tiên tri ngày trước quả đã ứng nghiệm: là ở Bê Lem vang lên những tiếng khóc than vì đau khổ. Ðó là tiếng bà Rakiên (Rachel) khóc thương con cái. Bà thất vọng vì các chúng đã không còn.
    Hêrôđê là một tay chuyên môn giết người, nên trong vụ sát hại hài nhi, ông đã áp dụng mọi cơ mưu độc ác:
    - Ủy cho một ban cảnh binh riêng ; định rõ hạn tuổi hài nhi ; nơi hài nhi ở ; và truyền thực hành cấp tốc, không để thời giờ kịp thoát nạn.
    Thật là nhà vua không bỏ sót một điều gì theo phương pháp nhân loại. Bọn vô thần không tin có siêu nhiên, nên họ phải hành động một cách vô cùng khôn khéo.
    Nhưng ngờ đâu, họ đã quên rằng có Thiên Thần. Mà cái đó mới thực quan hệ. Vậy ban đêm, trước khi sắc lện Hêrôđê được áp dụng. Thiên thần đã hiện đến báo mộng cho ông Giuse:
    "Hỡi Giuse ! Hãy chỗi dậy và cấp tốc mang Hài Nhi với Mẹ Người sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi có lệnh mới, vì Hêrôđê đang tìm sát hại Hài Nhi”
    Ðược lên, ông Giuse liền chỗi dậy, và ngay trong đêm ấy, trốn đi, đem Hài Nhi và Mẹ Người cùng sang Ai Cập !
    Thế là chương trình của Hêrôđê đã bị phá hỏng. Không một hài nhi nào ở Bê Lem thoát tay lý hình, chỉ trừ ra chính Hài Nhi người ta định mưu hại là Giêsu thôi ! Sự xảo trá của nhân loại đã thua Thiên Chúa một cách đau đớn và mỉa mai biết dường bao !
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  16. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Bà Maria được gọi dậy bằng những tiếng sét đánh ; Hêrôđê tìm sát hại Hài Nhi. Lòng bà tê tái. Lần đầu tiên bà cảm thấy mũi gươm nhọn ông già Simêon đã báo trước !
    Bà mau mắn khoác chiếc áo ngoài vào, và ẵm chặt lấy Hài Nhi, mang thêm mấy chiếc khăn chiếc tã nữa để bọc ấm người con yêu trên cánh tay đang khóc vì vừa tỉnh dậy. Bà sẵn sàng ra đi. Ở ngoài ông Giuse cũng đã sửa soạn xong con lừa.
    Một tiếng động khẽ.... Cánh cửa khép lại trong đêm tối. Và hai người bắt đầu lẩn trốn như có kẻ rình giết bên cạnh. Ông Giuse rảo bước, bà Maria với Hài Nhi ngồi trên con lừa hiền hậu. Nó hiên ngang như được vinh hạnh mang cả một cơ nghiệp và mối hy vọng của gia đình Thánh. Nó không hiểu gì và cũng không biết kể công mệt nhọc nếu phải qua một quãng đường dài khoảng 40 cây số. ( 40km )
    Ðêm tối gió lạnh thổi.... Nhưng thế mới tốt cho những người lánh nạn. Hai ông bà bồn chồn lo lắng, nhưng mặc, cứ tiến và phải tiến luôn ! Từ Bê Lem đến Ai Cập phải đi hai ba ngày đường kia mà....Ðồng thời theo nguồn hiểu biết của Thiên Chúa, Hài Nhi Giêsu nhìn qua lần khăn bọc, thấy rõ dòng máu lai láng của các Thánh Trẻ chảy ra. Ngài ra chiều ngủ mệt, nhưng lòng Ngài vẫn thức. Ngài lấy thánh ân hộ trì các bà mẹ mất con đang khóc lóc và thêm can đảm cho các bà chịu khổ, cũng như Ngài an ủi thân mẫu Ngài, nhất là những lúc trái tim thân mẫu như bị mũi gươm đau khổ thâu qua.
    Từ Bê Lem đến Ai Cập xa độ 200 cây số. Có lẽ hai ông bà đi theo con đường Bê Lem-
    Gaza-Suez-Egypt. Ðó là con đường gần, cách xa biển sa mạc, và có cái lợi là dễ kiếm nước, ít nguy hiểm và thấp thoáng có những bụi cây xanh để có thể tạm nghỉ chân.
    Qua kinh Suyê ( Suez ) hai ông bà đến một thành gần đó tên là Hêliôbôlít ( Heliopolis ) rồi từ thành này đến Matariết ( Matarieh ) cách thủ đô Ai Cập ( Cairo ) 10 cây số.
    Matariết là một hương thôn ở trong lãnh thổ nước Ai cập. Nhưng hồi ấy cũng hầu như khoảnh đất của người Do Thái, giống như Chợ Lớn ngày nay dưới tay Hoa kiều. Họ chiếm bằng nhân số và quyền lợi. Nguyên từ ngày vua Nabucôđônôsô (Nabuchodonosor) tàn phá thành Jêrusalem, một số đông Do Thái sang lập cư bên Ai Cập. Rồi số kiều dân tăng lên mãi có tới một triệu, họ phải đi ở rải rác nhiều nơi. Họ đã xây ở Lêongtôbôlit (Leontopolis) một đền lộng lẫy ngang với đền Sion ở quê nhà. Tuy nhiên họ vẫn trung thành với cố hương và liên lỉ tiếp xúc với những anh em đồng đạo ở chính quán. Ngoài ra ở Alịchsandra ( Alexandria ) cũng có nhiều nhà trí thức Do Thái. Họ chuyên dịch sách cho thư viện Pharaong Paolemêo II. Trong số các bản dịch Thánh Kính, có bản dịch “Bảy Mươi” là nổi tiếng nhất.
    Vậy Thánh gia bó buộc phải định cư ở Ai Cập, nơi đất khách quê người, trăm chiều túng thiếu. Giữa khung cảnh mới, ông Giuse đã sớm xoay nghề xưa, tra tay vào công việc cưa đục để kiếm ít đồng chi dụng.
    Khung cảnh Ai Cập thật là ly kỳ, trên mặt sông Nilô cuồn cuộn sóng, những cánh buồm to tha thướt khắp nơi, nhẹ nhàng băng mình trên dòng nước nâu nâu giữa hai bờ tre sậy.
    Ở đàng xa trên nền trời tím, thấp thoáng bóng Kim Tự Tháp đồ sộ. Trên mặt đất đó đây la liệt những di tích ; nào là văn bia của tiền đại Pha-ra-ông, nào là những dẫy đền chùa, nào những tượng thần trăm thứ, đứng sững trên những thạch trụ khắc chạm hình người với đầu ngựa hay bò xen với bầy yêu tinh. Phong tục và cách phục sức cũng lạ lắm. Người ta ăn mặc lố lăng, thích chưng diện và kiệu rước hàng trăm thứ tượng thần bằng đất sét. Người ta đua nhau sức thuốc thơm những tượng thần và thích thờ thần trong những núi đá nhỏ ở khắp nơi.
    Trước khung cảnh trần tục và dị đoan ấy, Thánh gia cảm thấy buồn phiền và tịch mịch cô đơn !
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  17. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Trên Ðường Về....
    Thánh gia phải cư trú ở Ai Cập để đợi ngày về đúng như lời tiên tri đã nói xưa "Ta sẽ gọi con Ta ở Ai Cập về “
    Thánh Kinh không nói rõ Thánh gia ở Ai Cập bao lâu ; nhưng theo các nhà chép sử, có lẽ Thánh gia ở đó chừng 2 hay 3 năm ( Chúa Cứu Thế sinh ra năm 747 từ khi lập thành La Mã, thế mà Hêrôđê băng hà năm 750. Nên có lẽ Thánh gia ở Ai Cập chừng 3 hay 4, 5 năm) Nhưng giờ về quê đã điểm.
    Một ngày kia, khắp nước Ai Cập bắn ra tin lớn: Hêrôđê đã băng hà !
    Hêrôđê ai mà chẳng biết. Một tên bạo chúa số một, khét tiếng gian hùng ! Ông chết năm 70 tuổi, do những việc quái ác, nhà vua mắc chứng bệnh ung thư trong ruột, đau đớn ngày đêm như bị mổ, muốn chết đi mà không được. Ðã có lúc đau đớn quá, nhà vua định tự sát cho xong đời, nhưng khốn nỗi người ta lại cản trở. Cơn đau cứ mạnh thêm, thêm mãi. Nhà vua quá điên dại, nhất là vì nghĩ đời mình sắp héo tàn và cái đó lại sẽ được thiên hạ chào mừng bằng những tiếng cười vui như là một điềm cứu thoát ! Nhà vua muốn mình du hành âm phủ phải có tiếng khóc theo sau, nên lập mưu bắt nhốt nhiều gia đình quý phái ở nhà cạnh kỹ thành Giêricô, và mật lệnh cho bộ hạ phải sát hại các gia đình ấy, khi vừa có tin mình băng hà. Như thế ắt sẽ có muôn người khóc. Nhưng cũng còn may, quỷ kế đã được cản lại và không một gia đình nào bị giết.
    Tuy nhiên người ta cũng cất ma cho nhà mua cách trọng thể. Di hài nhà vua được mặc áo hồng, xức thuốc thơm, được khiên trên cỗ đòn vàng và được thắp hương nến. Nhưng đám ma đi qua đâu cũng bị dân chào bằng chuỗi lời nguyền rủa .
    Tin vua Hêrôđê băng hà lan rộng. Nhưng Thánh gia vẫn chưa biết, mãi cho đến một đêm kia.... Ðêm ấy ông Giuse đang ngủ, Thiên thần Chúa lại hiện đến và ra lệnh:
    "Hỡi Giuse ! bây giờ ông hãy chỗi dậy và trở về Israel với Hài Nhi và Mẹ Người, vì những kẻ mưu toan hại Ngài đã chết ! “
    Vậy giữa đêm khuya, đang lúc trời đất lặng ngủ, hai ông bà lại thức dậy, đem Hài Nhi lên đường về. Ông Giuse định trở lại Bê Lem, vì ở đó vừa tiện bề sinh nhai đối với nghề nghiệp của mình, vừa là quê hương vua Ðavít tổ phụ Chúa Cứu Thế. Nhưng đến biên thùy, ông gặp một người đi đường cho biết Archêlaô đã lên thay vị cha, cai trị xứ Giuđêa Archêlaô là trưởng nam vua Hêrôđê. Ông này cũng ác lắm. Một hành động đầu tiên của ông là khánh thành cuộc lên ngôi bằng dòng máu của 3000 người Do Thái bị giết hại. Ông quả không kém Hêrôđê. Thành ra ông Giuse sợ không dám trở về xứ Giuđêa nữa...
    Hai ông bà san sẻ nỗi phân vân, rồi cùng cầu nguyện... Thiên thần lại hiện ra bảo phải trở về Nazareth ở xứ Galilêa (Galilee)
    Nên một buổi sớm tinh sương, ông Giuse mau mắn lên đường, cùng với con lừa hiền hậu chở bà Maria và Hài Nhi với bọc hành lý thối thiểu, hướng về thành Nazareth đúng như lời tiên tri đã nói xưa: “Ðấng chịu xức dầu sẽ gọi là người bản hương Nazareth”.........
    Hai ông bà Giuse và Maria vắng nhà đã lâu ngày...... Không ai ngờ đến những trường hợp éo le và lạ lùng đã xảy đến cho gia đình thánh ấy. Họ hàng thân thuộc lại thăm, nhưng câu chuyện chỉ thu gọn vào những lời hỏi han thường lệ. Trước mắt thế gian, đời sống của Thánh gia lại trôi théo thời gian với mực thường như bao đời sống khác..
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  18. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Ðời Sống Bình Dân
    NGƯỜI CHA LÀM THỢ MỘC, NGƯỜI MẸ THÊU THÙA, NGƯỜI CON ÐI MÚC NƯỚC..
    Một tiểu thôn xứ Galiêa được gọi là Nazareth nghĩa là “Cánh Ðồng Hoa, vì nơi đó là xứ sở của trăm hoa ; khắp đó đây những cây hoa mọc la liệt làm thành một cánh đồng thiên hương vạn sắc.
    Tiểu thôn xinh đẹp ấy, nằm cheo leo bên những ven đồi hướng mặt về cánh đồng Êđơlông (Esdrelon) và ngày nay lởm chởm nào thánh đường, nào tu viện, nào tháp chuông, giữa những ruộng hoa nhịp nhàng tha thướt, những cây trắc bá đen, những dàn nho chi chít quả, những mẫu lúa mì nặng chĩu hạt và những giếng nước bao giờ cũng trong sạch và thơm mát.... Chính trong cảnh sắc đó, Chúa Cứu Thế đã sống trọn quãng đời mai ẩn của Ngài trong khuôn khổ một gia đình bình dân.
    Không mấy lúc sau ngày hồi hương, những người bản quán quên rằng có lần ông Giuse đã xuất ngoại. Họ gọi ông cái danh từ đượm mồ hôi “Bác thợ mộc”
    Thợ mộc, nghĩa là một người vừa làm xà nhà, kèo cột, vừa đóng bàn ghế, tủ,giường và có khi liêm cả công việc của thợ nề ( Theo Thánh Kinh kể lại, dụng cụ của thợ mộc là, cái cưa, cái búa, dây nảy mực, cái đục và cái thước đo. ) Công việc thường nhật của ông Giuse là cưa gỗ, làm nhà, đóng bàn ghế tủ, lắp ráp với những con cá thô sơ ; sửa những món cày gỗ, hay làm chuồng bò, chiên, ngựa v..v.. Xưởng của ông là một sân hẹp và một căn nhà nhỏ vừa làm phòng ăn, vừa làm buồng ngủ, có một cái cửa sổ đem vào chút ánh sáng và không khí.
    Ðồ đạc trong nhà thô sơ, góc này là một hỏa lò để nấu nướng ; góc kia là một cái thùng, dăm ba cái chum (cái lu) đựng nước, quả khô và lúa ; thêm một vài cái nồi và mấy cái đĩa.... Ở chân tường, vài cái rương dùng thay tủ quần áo, vài ba cái thúng và một cái trụ nhỏ nâng đèn dầu để soi sáng ban đêm. Trong nhà có một cái thang hẹp lên gác thượng,
    gọi là mái bằng ; về mùa hè mái bằng là chỗ đón giấc ngủ dưới ánh trăng sao..... Có lúc chạy việc, trời thanh gió mát, ông Giuse cảm thấy tâm hồn thanh thản. Có lúc làm không đủ ăn, trời lại nồng nực khó thở trêu ngươi, làm ông khổ sở. Nhưng với Hài Nhi và người bạn hiền trước mặt, ông vẫn cảm thấy nghị lực dồi dào và lòng sung sướng nao nao.
    Bà Maria vui việc nội trợ. Khi thì quét dọn ở ngoài sân quanh chỗ ông Giuse làm việc dưới bóng cây vã ; lúc thì thu xếp trong nhà, hay thêu thùa và bếp núc. Bà mặc cái áo dài lượt thượt phai màu viền gấu, đầu đội lúp trùm bỏ thõng xuống đàng sau che món tóc kết lại bằng mấy cây kim cài, chân đi đôi dép đế gỗ. Theo lối phục sức thời ấy, phụ nữ nhà giầu quen nhuộm tóc, đội lúp trùm hình tua rua, trên có đính mấy sao bằng vàng hay bằng bạc lấp lánh, trong người thì mang túi đựng thuốc thơm và đi giầy da gót kín.
    Riêng bà Maria thì chuộng lối bình dân, rất giữ gìn trong cách ăn mặc, tuy nhiên vẫn y phục xứng bậc, hợp với thói lành chỗ hương thôn và làm vinh dự cho chồng....
    Giêsu một Hài Nhi linh lợi khôi ngô, da dẻ hồng hào trắng mịn, cặp mắt lóng lánh như sao mai, luôn luôn nở nụ cười và thích ở bên Mẹ. Cậu thích bám chặt vào áo Mẹ cả khi người bận việc. Cậu cũng ưa nhìn ông Giuse và thích nhận xét cách ông cưa xẻ.
    Giêsu là Thiên Chúa đấy. Nhưng lúc đó thiên tính của Ngài ẩn dưới màn nhân tính, giống như đỉnh núi nằm dưới đợt sương mù. Với tầm thước tí hon, Ngài đưa mắt nhìn vũ trụ. Ngài ưa xem Mẹ Ngài xay bột trong cái cối xay bằng hai thớt đá chồng lên nhau, rồi pha men và nướng bánh. Ngài ngắm nhìn đường kim mũi chỉ trong tay Mẹ, và nhiều khi Ngài theo Mẹ đi múc nước, rồi lại theo sau Mẹ đội vò nước về nhà.
    Người Nazareth hay thay đổi. Họ đang chuyện trò vui vẻ, bỗng sinh sự cãi nhau om sòm, nhất là ở bên bờ giếng, do vậy có câu thành ngữ mỉa mai “Cáu kỉnh như người Nazareth” Trong việc tiếp xúc với họ, Thánh gia phải ý tứ luôn luôn và rất êm đẹp, nhưng thế cũng không xong. Những kẻ khó tính thay vì khen những người họ thường tới lui, là đơn sơ chân thật, tận tâm, và vui vẻ ; họ lại đưa ra những lời không khéo:
    - Cái gia đình đó mới thật là gàn, đạo đức không phải lối. . . . .
    Người khác đệm thêm:
    - Ừ ! mà việc gì phải qua Ai Cập.
    Lại có kẻ thấy Thánh gia thuận hòa cách lạ, nhất là thấy Hài Nhi thông minh ngoan ngoãn, họ đâm ra ghen. Trong lúc trò truyện họ chỉ trích:
    - Bà ấy yêu con như thờ Chúa tể.
    - Phải ! Mà việc gì phải thờ, phải yêu như thế.
    - Bất quá cũng là con bác thợ mộc là cùng mà thôi !
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  19. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Giữa cảnh Nazareth êm đềm đầy thi hứng Hài Nhi Giêsu đã lớn lên, mạnh lên và trí khôn Ngài đã tuần tự thức tỉnh Giêsu đi nhà trường ( Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu không cần đi học cũng dư biết. Nhưng Ngài muốn giữ luật thường như bao nhiêu người khác ) Cậu học hành chăm chỉ, và mê man đọc những cuốn sách Sử và Tiên Tri.
    Cứ hình thức, Giêsu là một con trẻ như bao con trẻ khác. Trước kia khóc cười, cười khóc và lẫm chẫm tập đi, ngày nay cậu đã cao lên và đầy đặn, cậu tra tay vào công việc xưởng mộc và đồng áng. Ông Giuse có một khu đất nhỏ trên đồi, những giờ rảnh việc ở xưởng, ông đi cuốc đất. Giêsu cũng đi theo; Cậu đem theo đoàn chiên đi chăn, thỉnh thoảng lại nhìn ông cuốc xới, đốt cỏ và gieo hạt, đôi khi Cậu cũng phụ giúp ông đào cuốc... Lúc về Cậu thường hái cho Mẹ mấy bông huệ rừng, mấy bông mẫu đơn hay vài chùm nho chín thẫm.
    Ông Giuse mãi miết làm việc cả ngày, nhưng lòng trí luôn nhớ tới người con thân yêu, nhất là nhớ lúc Mẹ Ngài tập cho Ngài bập bẹ nói tiếng "Giavê” nghĩa là “Thiên Chúa” tức là Cha thật của Ngài.
    Nhưng nếu người ta thấy nhiều con trẻ có xu hướng về âm nhạc, hội họa hay về văn chương thi phú.... Thì người ta thấy trẻ Giêsu là một thần đồng siêu việt trong địa hạt Tôn Giáo. Trẻ Giêsu có những quan điểm rõ rệt, cao thâm về kinh nghiệm nghi lễ. Quả thật thiên tính của Ngài, đã lần lần chiếm lấy khoảng không át cả nhân tính ở trong Ngài, cũng như mặt trời chói sáng giải hào quang xuống trái đất, mây mù càng tan lỏng ra. Người ta cảm thấy ơn Chúa ở trong Ngài. Và thân phụ vui sướng vì thấy ánh vinh quang của thiên tính ở trong Ngài tỏa sáng ra.
    Mỗi ngày hai buổi Thánh gia cầu nguyện chung, ông Giuse đứng đầu xướng xuất. Ông thường rút ở trong cái hộp treo ở gần cửa ra một cuốn sách bằng da cừu, xướng kinh ban mai, và ban tối: “Chỉ có Chúa chúng ta là chính Thiên Chúa độc tôn. Con phải thờ phượng kính ái Người với hết tâm hồn con ... “
    Các ngày thứ bảy trong tuần là ngày tiến dâng Thiên Chúa. Ngay từ chiều hôm trước, lúc mặt trời ẩn sau ngọn núi, một hồi kèn trong làng vang lên báo hiệu ngày thứ bảy đã gần. Mọi người mau mau thu xếp công việc, vì một giờ sau, tiếng kèn vang lần nữa, là ngày thứ bảy bắt đầu rồi. Từ lúc đó trong mọi nhà phải nhóm lên “ngọn đèn của ngày thứ VII” (Chính chữ là “Lampe du Sabbat”)
    Ðèn nhóm lên tượng trưng một ngày vinh quang hoan hỷ. Trong vòng 24 giờ không ai được thổi nấu, người ta phải giữ sẵn trong lò của ăn đã dọn sẵn từ hôm trước. Ngày thứ VII toàn dân đi nhà Giảng Hội cũng như giáo hữu đi nhà thờ.
    Theo tinh thần Luật, trong cả nước chỉ có một nơi thờ phượng là Ðền Thánh ở thành Jêrusalem thôi. Nhưng vì xa xôi cách trở, nên mỗi làng, dân thường xây một giảng đường để hội nhau cầu nguyện và nghe diễn giảng. Theo quan niệm của dân, nhà giảng hội là nơi thiêng liêng nhất trong làng. Nhà giảng hội hình vuông, ở giữa nổi lên một giảng đàn trên có giá sách cho diễn giả. Chung quang giảng đàn kê một tủ chứa những cuốn Thánh Kinh bằng da. Người ta tới nhà giảng hội từng gia đình một. Lễ phép vào rửa tay trong cái chậu to để ở ngưỡng cửa, rồi nam giới ngồi với nam giới, nữ giới ngồi với nữ giới.
    Hát ca vịnh xong, một thầy đạo trưởng, hay là một thầy thông giáo đọc sách và giảng nghĩa Lề Luật. Nếu diễn giả là thầy đạo trưởng, thì diễn giảng xong, thầy phải làm phép lành cho cử tọa.
    Buổi chiều, người ta đi thăm nhau, nhưng không được đi quá xa, vì Luật cấm. . . . . . . .
    Ðời sống của Thánh gia đã lần lượt trôi theo chuỗi ngày làm việc và nghi lễ trong khung cảnh êm đềm đó, trừ ra có một năm kia lộng lên cơn thử thách: ấy là lúc Hài Nhi lên 12 tuổi đi lễ ở thành Jêrusalem.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  20. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Làm Việc Thuộc Về.. Ðức Chúa Cha.
    Năm nay chúng ta đi viếng Ðền thờ Jêrusalem ?
    - Vâng ! Mà phải đi vào dịp lễ Vượt Qua (Pascha)
    Gia đình ông Giuse nổi tiếng là mộ đạo. Mùi hương nhân đức bay ra chung quanh, và tiếng nói của việc thiện đã vọng đi xa lắm. Ngoài việc cầu nguyện hằng ngày, mỗi năm một lần, hai ông bà đều lên thành Jêrusalem thờ lạy Chúa.
    Năm ấy Hài Nhi lên 12 tuổi, cái tuổi xuân tươi bắt đầu chớm nở, và theo ý niệm Do Thái. Lề Luật bắt đầu buộc phải đi viếng Ðền thờ Jêrusalem. ( Theo quan niệm Do Thái, trẻ 12 tuổi, có thể coi như trưởng thành. )

    Hài Nhi Giêsu là một trẻ siêu việt. Từ bé đã tỏ ra nhiều dấu khác thường trong lời nói, việc làm và cử chỉ. Bà Maria rất sung sướng được chiêm nghiệm những cử chỉ có một không hai ấy. Nhất là ít lâu nay Hài Nhi Giêsu càng hiện ra lạ lùng hơn. Chung quanh Hài Nhi như ánh ngời một tia siêu phát, người ta nói: Cùng với thân hình nở nang và thêm đầy đặn, Hài Nhi cũng thêm thông minh và ánh ngời trong ơn thánh sủng. Trong Ngài không có những cử chỉ thường có của trẻ con, những cử chỉ thay đổi hàng ngày như ảo mộng. Trong Ngài có những cử chỉ đặc biệt và khéo léo.
    Vậy Giêsu lên 12 tuổi, hai ông bà đặc biệt bàn tính với nhau, việc đi Ðền thờ Jêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua và đem trẻ Giêsu đi nữa. ( Dĩ nhiên năm nào cũng đem theo Hài Nhi đi, nhưng năm ấy đem đi cách chính thức theo Lề Luật. )
    Bà Maria thuộc bên nữ giới, Luật không buộc, nhưng bà cũng muốn đi để tỏ lòng tôn kính Lề Luật và được luôn luôn ở bên cạnh người con yêu quý.
    ***
    Hai ông bà lên đường, nhập bọn với những người cùng một ý định. Ðàn bà cưỡi lừa, đàn ông đi bộ tay cầm gậy nhỏ.... Từ Nazareth đến Jerusalem hơn một trăm cây số. Ðường chia ra từng chặng. Bọn lữ hành thường nghỉ chân ở bờ suối Enganinh trong xứ Samaria, rồi giếng Giacóp và Bêrốt. Ðể đi cho vui chân, dọc đường họ hát những ca vịnh theo điệu kèn đồng và ống tiêu:
    Con mắt tôi mơ về thành Thánh. Nơi đem ơn phú thịnh cho tôi.
    Tôi được cứu do tay Ðấng Vĩnh tại. Người đã dựng lên trái đất và bầu trời (Ps.121)
    Jêrusalem ! Jêrusalem ! Chân chúng ta bước về cửa thành ngươi.
    Muôn dân tiến lên chúc mừng ngươi. Thành quách ngươi y nguyên không rạn vỡ.
    Kìa Ðền Thánh Jêrusalem hiện ra uy nghi, in bóng cao ngất trên nền trời xanh thẵm. Mọi người cung kính sấp mình thờ lạy Chúa và hô tiếng:”Halleeluia! Hoan hô Thánh đường Thiên Chúa” Cả đoàn lữ hành sung sướng, xếp hàng tiến lên thành Thánh theo điệu ống tiêu và kèn đồng, để dự tuần lễ Vượt Qua sắp mở ( Tuần lễ Vượt Qua gồm 7 ngày, ngày nào cũng vui vẻ náo nhiệt, số người tới dự vào thời đó rất đông, tính ra có cả hàng triệu người. Theo sử gia Joseph, mỗi tuần lễ Vượt Qua tốn hết khoảng trên hai trăm ngàn con chiên. Mỗi nhóm từ 10 đến 20 ăn một con.)
    Dịp lễ cảm động ! Và nhất là đối với trẻ Giêsu ! Vì đây là lần thứ nhất Ngài chính thức vào nhà Thiên Chúa là Cha Ngài.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *

Chia sẻ trang này