1. Chào mừng Khách đến với svphatdiem.com phiên bản mới
    Hỗ trợ trực tuyến
                   
    Hotline: 0979.903.200

Cuộc đời chúa Giesu

Thảo luận trong 'Giáo lý - Sứ điệp - Tín lý' bắt đầu bởi khiradi, 10/12/10.

  1. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    --Lạy Thầy Giêsu ! xin thầy thương chữa chúng tôi. Ngài nhìn họ và phán bảo :
    --Các con hãy đi trình diện với các đạo trưởng.
    Họ vâng lời đi ngay, và dọc đường, mười người đã được khỏi cả. Nhưng trong số đó,
    chỉ có một người thuộc xứ Samaria trở lại cám ơn Ngài mà thôi. Người đó đến sấp mình dưới chân Ngài và tỏ hết tình tri ân. Thấy thế, Chúa phán :
    --Nào mười người không khỏi cả sao ? Còn chín người kia đâu ? Sao chỉ có một người ngoại xứ đến cám ơn Chúa ? ( Dân Do Thái coi xứ Samaria là thuộc dân ngoại )
    Rồi Ngài nói riêng với người xứ Samaria :
    --Phần con, con hãy chổi dậy mà trở về. Con tin, nên con đã được khỏi.
    Thân Hữu Của Người Mù...
    Chúa Giêsu tiếp tục đi giảng khắp các miền bên bờ hồ xứ Galilêa. Ngài đi tới đâu, dân chúng kéo tới đấy. Họ đem theo những bệnh nhân : người què, người mù, người tê liệt, người câm điếc v..v.. Và Ngài làm phép lạ chữa khỏi hết : Kẻ què đi được, kẻ câm được nói, kẻ điếc được nghe, kẻ mù được xem, kẻ tê liệt được khỏi. Những phép lạ đó làm dân chúng cảm phục, kính tôn, lớn tiếng tạ ơn Chúa đã ban cho Ngài một nhiệm quyền như vậy.
    Một ngày kia người ta đem đến cho Ngài một người câm điếc để xin Ngài chữa. Ngài liền dắt người đó ra khỏi đám dân, lấy ngón tay động vào tai người đó, rồi lấy nước bọt cho vào lưỡi người đó nữa. Ðồng thời, Ngài ngửa mặt lên trời, hầu như thở dài và nói với bệnh nhân “Ephphetha” nghĩa là “Hãy mở ra” Ðột nhiên tai người ấy mở ra, nghe thấy được, và sợi giây buộc lưỡi người ấy cũng đứt luôn, người ấy nói được rất rõ. Dân chúng thấy vậy cảm kích lắm, kêu lên “Thực là mầu nhiệm, Ngài là cho kẻ điếc nghe và người câm nói”....Lần khác, đang ở làng bét Bétsai, người ta đem đến cho Ngài một người mù, để Ngài chữa. Ngài cầm tay dắt người mù ra khỏi làng, lấy nước bọt bôi vào mắt người ấy rồi đặt tay lên trên hỏi :
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  2. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    --Con có thấy gì không ? Người mù thấy lờ mờ, thưa lại :
    --Con thấy người ta xê dịch tựa như cây biết đi.
    Ngài lại đặt tay trên mắt người mù lần nữa. Người ấy liền thấy rõ mọi vật ngay, không lờ mờ như trước. Ngài cho người ấy trở về và dặn theo :
    --Con hãy về nhà, đừng nói trống việc với ai.
    Lần khác nữa, Ngài cũng chữa hai người mù ngồi ăn xin bên vệ đường Giêricô trong xứ Giuđêa. Một trong hai người này được nhiều người biết. Ðó là con ông Timê....
    Nghe tiếng ồn ào của đám đông theo Chúa, hai người dò la biết đích là Chúa Giêsu đi qua, liền kêu lớn tiếng :
    --Lạy Giêsu, Con vua Ðavít xin thương chữa chúng tôi.
    Mấy người đi trước dọa nạt, muốn họ im, nhưng họ càng kêu to hơn trước :
    --Lạy Giêsu Con vua Ðavít, xin thương chữa chúng tôi.

    Chúa Giêsu đã nghe thấy rõ, Ngài dừng lại nói :
    --Hãy bảo họ đến đây.
    Một người chạy lại bảo hai người mù :
    --Im đi, đứng dây, Ngài gọi các anh đó.
    Hai người vội đứng dậy, quên cả áo ngoài, đưa tay cho người ta dắt đến Chúa. Chúa hỏi : “Các con muốn xin Ta làm gì cho các con ?” Hai người đều thưa :
    --Lạy Thầy, xin hãy làm cho chúng con được xem thấy.
    Chúa cảm động để tay trên mắt mỗi người và phán :
    --Ðược ! Ta cho, con hãy xem...Con tin nên con được khỏi.
    Mắt hai người liền mở ra, xem thấy rõ. Hai người cùng đi theo Chúa Giêsu, xen vào dân chúng và dân chúng hết thảy vui mừng ca ngợi Thiên Chúa về lòng quảng độ của Ngài đối với những người xấu số.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  3. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Không Ðáng Ðược Thầy Chiếu Cố....
    Chúa Giêsu trở về Caphanaum trụ sở truyền đạo của Ngài... Có một viên bách quân trưởng trong thành đó có người con đang ốm nặng đau đớn, liệt giường sắp lâm chung.
    Ông đã nghe người ta đồn nhiều về Chúa Giêsu. Ông tin tưởng lắm, nên sai mấy người đến xin với Chúa chữa người con của ông đang liệt nặng. Ðó là mấy người kỳ mục Do Thái có thế lực trong dân. Mấy ông nhận lời, đi ngay, thưa với Chúa :
    --Thưa Thầy ! Viên Thượng sĩ mà Thầy biết, có người con ốm nặng, ước ao được Thầy cứu chữa...Thầy biết ông ta xứng đáng lắm : Ông thật tình yêu đất nước chúng ta và đã xây cho chúng ta một giảng đường. Vậy xin thầy ban ơn...
    Chúa ưng thuận :
    --Ta sẽ đi và cứu chữa.
    Chúa với các ông cùng đi, hướng về nhà viên Thượng sĩ. Dọc đường mấy thân hữu của viên đó đến đón, vái chào và kính cẩn thưa :
    --Bẩm Thầy, xin Thầy chớ phiền bận. Thượng sĩ chúng tôi không đáng được Thầy chiếu cố, cũng như không dám tự tiện đích thân đến thưa Thầy. Ông chúng tôi chỉ xin Thầy phán cho một tiếng để con ông được khỏi.
    Nhưng Chúa tiếp tục đi. Một người trong đám thân hữu chạy vội về báo tin cho viên Thượng sĩ. Viên này chạy ra ngay. Ông biết mỗi khi Biệt Phái có việc phải tiếp xúc với ông hay với người ngoại giáo, lúc về, phải tắm rửa cẩn thận để thanh tẩy hết cái nhơ vì gặp người ngoại giáo. Ông nghĩ Chúa là người Do Thái hẳn cũng phải giữ nghi thức phiền toái đó. Không những thế, mà bao người Do Thái đi với Chúa cũng phải giữ theo.
    Ông không muốn phiền Chúa như vậy. Nên ông đích thân chạy ra thưa với Chúa trước khi Ngài vào nhà :
    --Lạy Thầy ! Tôi quả không đáng được Thầy hạ cố tới nhà tôi. Thầy chỉ thương phán một tiếng, con tôi cũng được khỏi. Vì như tôi đây là người hạ cấp, chịu phục quyền trên, thế mà tôi bảo lính, đứa này rằng “Ðến” là nó đến ; và đứa khác rằng “hãy làm cái này” là nó làm ngay. Vậy Thầy chỉ phán một lời, là con tôi khỏi.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  4. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Câu nói của viên Thượng sĩ làm Chúa bỡ ngỡ. Ngài cảm phục đức tin của ông. Ngài quay nhìn các kẻ theo Ngài và phán : --Ta nói thật, Ta chưa gặp một đức tin như vậy trong dân Israel. Vì thế, Ta nói thật, nhiều người từ bên Ðông và bên Tây sẽ đến nước Trời ngồi với Abraham. Isaac và Jacob
    mà con cái trong nhà sẽ bị đuổi ra, đi vào chỗ tối, phải khóc lóc nghiến răng.
    Rồi Ngài nói với viên Thượng sĩ :
    --Ông hãy về, con ông được khỏi như ông đã tin.
    Thượng sĩ trở về và ông thấy con ông quả đã được khỏi chính lúc Chúa phán “Con ông được khỏi, như ông đã tin”.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  5. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Người Chết Sống Lại... Chúa Giêsu đi giảng khắp nơi, từ thành này sang thành nọ. Hôm ấy Ngài cùng môn đệ và dân chúng đến Naim, một thị trấn nhỏ ở phía Nam Nazareth. Lúc gần tới cửa thành thì gặp một đám ma. Ðó là đám một chàng thanh niên mới mất. Cậu là con của một bà kia. Bà góa chồng từ lâu. Bà đặt tất cả hy vọng vào con một, nhưng con một cũng mất nữa, lòng bà đau như xé. Số phận bà khổ quá. Nên cả thị trấn đều cảm thương và nhiều người đến an ủi và giúp đỡ bà trong việc mai táng. Người ta định sẽ táng xác con của bà trong huyệt nhỏ đã đào ở chân đồi kia....
    Ðám tang ra khỏi cổng thành. Xác chàng thanh niên để trong quan tài đặt trên cái giá rỗng, một nhóm thân thuộc và bằng hữu khiêng. Theo sau có mấy người khóc mướn, kể lể bi ai, không ngớt ca tụng người đã mất. Tiếp đến bà mẹ, điệu bộ rũ rượi sầu phiền, khóc sướt mướt tựa người không còn lẽ sống. Gặp đám tang, dân chúng và môn đệ đứng lại, cung kính đợi cho đám xác đi qua. Còn Chúa thấy bà mẹ sầu phiền. Ngài cảm động, thương tình quá. Ngài nhìn cách hiền từ và ủi an “Thôi đừng khóc nữa” Ngài tiến lên mấy bước, đặt tay vào giá khiêng. Những người khiêng dừng lại. Ngài nhìn chiếc săng người thanh niên, lòng càng xúc động bồi hồi. Nhưng Ngài lại chấn tỉnh ngày và phán :
    --Hỡi con ! Ta muốn con chỗi dậy.
    Bỗng người thanh niên chỗi dậy ngay và bắt đầu nói....
    Còn Chúa Giêsu với một cử chỉ đáng yêu và mỉm cười nhân từ, Ngài trả người thanh niên cho bà mẹ. Bà ôm chặt lấy con mừng bỡ ngỡ. Dân chúng đứng đó cũng bỡ ngỡ và sợ : Một xác chết sống lại ư ?!... Nhưng rồi từ kinh sợ đã chuyển sang vui sướng, dân chúng lớn tiếng hoan hô chúc tụng Chúa Trời. Họ tin rằng Ngài đã làm chỗi dậy một tiên tri lớn để cứu chữa dân... Mấy ngày sau, việc lạ đó đồn đi khắp các miền chung quanh, tới cả xứ Giuđêa nữa.
    Lần khác, Chúa xuống thuyền qua hồ Tibêrát trở về Caphanaum.Vừa lên bến, Ngài gặp một viên giảng đường trưởng tên là Giarô, mặt sầu muộn như người đang lo mất của quý. Ông này đến sấp mình dưới chân Chúa và kêu van :
    --Lạy Thầy ! Con gái nhỏ tôi chết mất !.. Có lẽ chết bây giờ chăng ?... Xin Thầy thương đến đặt tay trên đầu nó để nó sống, Thầy cứu nó với...
    Em bé đó là con một của ông, mới 12 tuổi. Ông yêu quý hơn vàng, nhưng càng quý thì càng thương, vì em sắp mất. Nỗi thương buồn lộ ra cả trong cử chỉ lẫn lời kêu xin, làm Chúa cảm động và đi ngay....

    Hôm ấy dân chúng theo Ngài đông quá, người ta xô nhau, chen nhau vướng cả bước chân Ngài. Giữa lúc lộn xộn đó, một bà kia lên phía đàng sau, tới đụng vào gấu áo của Ngài. Ðó là một người đàn bà đã bị mắc bệnh băng huyết mười hai năm, đau đớn lắm !
    Bà đã tìm nhiều thầy, uống nhiều thuốc, nhưng chẳng thấy khá hơn, chỉ thấy mỗi ngày gia tài mỗi khánh kiệt. Bà nghĩ thầm, nếu tôi chỉ được đụng tới gấu áo của Ngài thôi, tôi cũng được khỏi, vì Ngài có phép nhiệm chữa mọi người bệnh tật, hẳn áo Ngài cũng có một sức nhiệm không sai. Vậy bà tìm cách động tới áo Ngài và bà cho đó là thượng sách. Sở dĩ bà không dám thú bệnh với Chúa một cách công khai, là vì người ta sẽ dựa vào Luật coi bà là người nhơ và tránh lánh, cũng như người ta vẫn coi bệnh đó là dấu hiệu một đời sống hư hèn, đáng khinh dể. Và đúng thay ! Vừa đụng tới áo Chúa, bà liền được khỏi. Bệnh băng huyết cầm lại ngay, bà cảm thấy trong mình đã khỏi dứt...
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  6. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Nhưng ơn lạ không dấu kín được. Chúa không phải cái máy làm phép lạ, để hễ người ta đụng vào, là phép lạ hiện ra đâu. Chúa đã biết ai đụng vào Ngài. Chúa đã có ý thức và ưng thuận để một nhiệm lực của Ngài truyền ra. Nhưng Ngài không muốn bà kia lầm tưởng rằng người ta có thể lợi dụng Ngài, gán cho áo Ngài có một sức phù pháp như đôi khi người ta gán cho vật nọ vật kia, vì như vậy là dị đoan, mà dị đoan đâu phải là tôn giáo. Không, người ta phải tin vào Chúa, chứ đừng tin vào đồ vật. Ðồ vật chỉ là trung gian Chúa dùng để ban ơn thôi. Vậy phải quy hướng ơn lạ về Chúa hơn về đồ vật. Ngài quay lại hỏi một cách bâng quơ :
    --Ai đụng vào Ta áo ta thế ?
    Ai ai cũng chối...Không ai biết ai đã đụng vào áo của Ngài cả. Ông Phêrô, một trong số các môn đệ ở gần Ngài thưa :
    --Bẩm Thầy, dân chúng chen lấn nhau xô đụng vào áo Thầy từ phía mà Thầy hỏi “Ai đụng vào áo Thầy đó”
    --Phải, Ngài nói, có kẻ đụng vào Ta thực, và Ta đã để một nhiệm lực của Ta truyền ra.
    Thấy việc mình đã bị lộ, bà kia run rẩy đến sấp mình dưới chân Chúa, thú nhận trước mặt dân, tại sao mình đã đụng vào Ngài, và thoát chốc đã được khỏi...
    Bà chưa dứt lời, Chúa đã phán :
    --Thôi, con cứ yên tâm. Con tin, nên con được khỏi, con hãy về nhà.
    Chúa đang phán, thì người nhà của ông Giarô đến bảo ông :
    --Tôi ân hận đưa tin : “Con của ông đã mất rồi, Ông không nên phiền Ngài nữa”
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  7. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Nét mặt ông Giarô đang hồng hào bỗng đổi hẳn. Ông thẩn thờ hầu như mọi hy vọng đã tan biến. Lúc nãy, thấy phép lạ chữa bà kia, ông đã tin tưởng lắm. Ông đã mong Thầy chóng đến nhà chữa cho con ông. Nhưng ôi !..bây giờ nó còn thở đâu mà trông phép lạ nữa. Ông đau khổ quá, đôi mắt ướt lệ của ông như báo hiệu những tiếng nấc nở vì thương buồn. Chúa cảm động, Ngài an ủi ông : --Ông cứ tin tưởng, đừng sợ. Chúng ta đi, con ông sẽ được sống.

    Nhưng con gái ông Giarô đã chết thật và người ta đang sửa soạn đem chôn. Nhà ông chật ních những người thân thuộc, bằng hữu đến phân ưu. Bên cạnh giường để xác, mấy người khóc mướn, tiếng khóc pha lẫn tiếng kèn tiếng trống và những tiếng nhạc cụ bằng đồng, làm không khí trong nhà nhộn nhịp, bi đát...Giữa lúc đó, Chúa đã tới nhà ông Giarô. Ngài phán :
    --Thôi đừng nhộn nhịp, đừng kêu la khóc lóc nữa. Em bé không có chết đâu. Nó chỉ ngủ thôi.
    Những người ở đấy phì cười. Họ mỉa mai ; Ngài vừa đến, Ngài biết sao được. Em nó chết thật rồi, chứ ngủ đâu... Họ không ngờ rằng Ngài sẽ làm cái chết của em bé vắn lại như một giấc ngủ.
    Nghiêm nét mặt, Ngài truyền cho mọi người ra khỏi nhà, chỉ cho phép ba môn đệ là Phêrô, Giacôbê, Gioan và cha mẹ của em bé vào phòng để xác thôi. Không khí nặng nề khó thở. Xác em bé nằm yên lặng đáng thương. Ngài tiến lại gần, cầm tay em bé và hô lớn “Talitha Cumi” nghĩa là “Hỡi con, hãy chỗi dậy” tức thì em bé mở mắt, động môi, hai má hồng đỏ, thở và chỗi dậy ngay, bước xuống đi lại nữa.
    Phép lạ làm cho cha mẹ em bé kinh ngạc khiếp sợ quá, đứng dựng người như hai chiếc cột. Nhưng rồi tiếng trong trẻo dễ yêu của Chúa đã phá tan bầu không khí khiếp sợ, hai ông bà chỉ còn sướng dạ mừng vui. Chúa truyền đem của ăn cho em bé và dặn đừng phao tin đồn phép lạ ra. Nhưng uổng cả. Mọi người trong nhà đã đều biết phép lạ, và chính những người mỉa mai lúc trước càng kính phục và quảng cáo phép lạ đó cách hăng nồng hơn. Vì thế, tiếng đồn về em bé được sống lại đã lan mau ra trong cả nước.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  8. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Phái Ðoàn Của Gioan...
    Ông Gioan Tẩy Giả bị giam giữ ở pháo đài Macheronte, phía đông Biển Chết. Tuy bị giam, ông vẫn được tự do gặp các môn đệ.
    Từ trước kia và nhất là bây giờ, ông càng muốn cho uy thế Chúa mạnh lên, thanh danh Chúa chóng lan rộng và sứ mạng cứu thế của Chúa được mọi người tin nhận. Sứ mạng đó một phần dân chúng đã tin, vì họ thấy Chúa ăn ở thánh thiện, giảng thuyết khéo léo và làm rất nhiều phép lạ. Tuy nhiên nhóm môn đệ ông Tẩy Giả chưa tin và còn nghi kỵ nữa. Ông rất buồn về điều đó, và tìm hết cách giới thiệu Chúa với môn đệ của ông. Nên một ngày kia, ông sai hai môn đệ đến hỏi Chúa rằng :
    --Thầy có phải là Ðấng sẽ đến không ? Hay chúng tôi phải đợi người khác ?

    Câu hỏi có nghĩa là : Thầy có phải là Ðấng Cứu Thế các tiên tri đã nói không, hay chúng tôi còn phải đợi người khác ? Ðặt câu hỏi này, ông Tẩy Giả ngụ ý xưng mình không phải là Chúa Cứu Thế, và ngầm phát biểu quan niệm của mình về sứ mạng Cứu Thế của Chúa Giêsu, để môn đệ của ông nhận Ngài là Chúa Cứu Thế.
    Vâng lời ra đi, hai môn đệ đến đúng vào lúc Chúa đang làm nhiều phép lạ, chữa mọi tật nguy, cho kẻ què đi, cho kẻ câm nói, kẻ điếc nghe, kẻ mù thấy.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  9. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Chúa Giêsu trả lời cho hai môn đệ rằng : --Các ông hãy trở về thuật lại cho ông Gioan những điều các ông đã thấy, đã nghe. Ðó là kẻ mù thấy, kẻ què đi, kẻ phong hủi được sạch, kẻ điếc nghe, kẻ chết sống lại và người nghèo được nhận tin lành của nước Chúa. Vậy hạnh phúc những ai không nghi kỵ vì thấy việc Ta làm.
    Ý Chúa muốn nói : Gioan muốn biết sứ mạng cứu thế của Ta ư ? Thì hãy xét theo việc Ta làm. Ta đã thực hiện hết mọi điều các Tiên tri nói về Chúa Cứu Thế. Vậy hạnh phúc những ai, thay vì ngần ngại và nghi kỵ, biết nhìn qua các việc của Ta, mà nhận ra sứ mạng cứu thế của Ta.
    Chúa biết ông Gioan đã tin Ngài từ bao giờ rồi, tin vững chắc lắm. Nhưng ông sai môn đệ đi là để tìm dịp cho họ phục Chúa và để giới thiệu Chúa cách công khai. Vì thế Chúa trả lời ông bằng cách minh chứng Ngài là Chúa Cứu Thế qua các công việc và các phép lạ Ngài làm. Trả lời như vậy là hợp với ý tốt ông Gioan muốn cho môn đệ của ông và dân chúng nhận biết Chúa, cùng tin theo Ngài. Vì thế hai môn đệ kia đi rồi, Chúa mượn dịp nói về ông Gioan, khen ông trước mặt dân chúng.
    --Các con đã đi xem và thấy gì trong rừng ? Các con thấy một cây sậy bị gió đánh vật vờ ư ?Không ! Các con thấy một người mặc áo lỗng lẫy ư ? Cũng không ? Vì những người phục sức như vậy chỉ thấy trong cung điện. Thế Ta hỏi các con thấy gì ? Một tiên tri ư ? Ðúng thế, và Ta nói ; còn hơn cả Tiên tri nữa. Vì chính ông đã được Chúa ám chỉ trong sách rằng : “Ðây là sứ giả Ta sai đến trước để dọn đường cho Con” Ta cũng tuyên bố thêm (Từ trước tới nay trong phạm vi Tiên tri) chẳng có người nam nào bởi người nữ được sánh với Gioan. Tuy nhiên trong Nước Trời, kẻ rốt hết vẫn còn trọng hơn Gioan.
    Chế độ tiên tri và lề luật tới đến Gioan là hết. Nhưng Gioan còn sứ mạng cao hơn, đó là sứ mạng dọn đường...Vì thế Gioan chính là tiên tri Êlia mà các con chờ đợi.
    Chúa còn phán tiếp :
    --Các con hãy ý tứ nghe, Gioan Tẩy Giả tuyên bố Nước Trời đã gần, nhưng điều kiện vào nước đó là mạnh bạo tự chế mình, vì chỉ những người tự chế mình nổi, mới vào được thôi. Mà tự chế mình, đó là cải thiện đời sống, thống hối ăn năn...Công việc thống hối và cải thiện đó chính Gioan đã làm gương, đã tự ăn khổ, mặc khổ và ở khổ trong rừng thiêng nước độc. Vì thế, mà dân chúng và cả một số thương chính quy phục Thiên Chúa, đã chịu phép rửa của Gioan. Nhưng than ôi ! Chính Biệt Phái và những tiến sĩ Luật vẫn còn khinh thị tiếng gọi của Chúa, chưa chịu Gioan rửa cho. Họ thật kiêu hãnh quá, Ta biết ví họ với lớp người nào được... ? Họ thật giống như những gã bông lông chơi giởn ngoài phố xá, mâu thuẫn cãi nhau : Ta thổi sáo mà bay không nhảy. Ta khóc lóc mà bay không kêu la. Phải, chính thế. Họ giống như những chàng khó tính, không bao giờ bằng lòng với lối chơi của bạn đồng song cả. Gioan Tẩy Giả đến, ông không ăn, không uống,
    thì họ bảo ông bị quỷ nhập. Con Người đến, Con Người ăn uống như mọi người, thì họ bảo đó là đồ mê ăn, mê uống, thích làm bạn với tụi thương chính và lũ vô luân. Họ không muốn nhận rằng trong trường hợp này hay trường hợp kia, Thiên Chúa đều có thể thi hành công việc của Ngài được...
    Chúa kết :
    --Nhưng cũng còn may là sự khôn ngoan (của Chúa) đã được chứng thực bằng việc làm....
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  10. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Tiên Tri Bị Chặt Ðầu....
    Một thảm kịch ấp ủ từ lâu, đột nhiên đã diễn ra ở Macheronte, cung điện vua Antipas
    “Thảm kịch tiên tri bị chặt đầu !”
    Macheronte, một lâu đài lộng lẫy, bên trong được trang sức theo kiểu Á Ðông, Ai Cập, Hy Lạp và La Mã. Hêrôđê Ðại đế đã xây lâu đài đó cách Biển Chết mấy cây số ngay bên sườn núi Moab, giữa một khung cảnh tịch mịch, buồn tẻ và lồi lõm, để gợi lại cảnh rừng của xứ Ả Rập, nguyên quán của nhà vua, lúc còn sinh thời, vì nhà vua ưa thích chỗ đó lắm, hơn nữa lại là chỗ chắc chắn không sợ ai hại được.
    Hêrôđê Ðại đế qua đi, Antipas là con, càng thích Macheronte hơn nữa, nhà vua tới đó luôn luôn, nhất là sau ngày lấy bà Hêrôđiađê để được tự do tâm sự với tình nhân. Quãng thời gian ấy, cũng ở Macheronte, có một nhân vật khác nổi tiếng trong dân, đó là ông Gioan Tẩy Giả. Ông bị nhốt trong một hang hẹp dưới đất, vì trước kia pahn đối nhà vua dám cưới bà Hêrôđiađê trái luật. Tuy nhiên, ông vẫn được tự do tiếp xúc với môn đệ của ông và vẫn được nhà vua tôn kính. Nhiều lần nhà vua hỏi ý kiến ông để quyết định việc này việc nọ. Cũng nhờ vậy ông đã khuyên nhà vua được nhiều điều hay. Nhưng bà Hêrôđiađê không bao giờ quên được mối thù với ông. Bà còn lo cho tương lai của mình, mỗi khi ông được nhà vua hỏi ý kiến. Bà ta luôn luôn tìm cách hại ông, đưa ông vào chỗ tiêu diệt hoàn toàn, để nhà vua hết chịu ảnh hưởng của ông nửa.
    ***
    Một ngày kia Antipas có việc đại hỷ ; mừng lễ Vạn thọ (sinh nhật) Nhà vua đặt đại tiệc thiết đãi các đình thần, tướng tá và nhân sĩ trong dân.... Cuối tiệc cô Salômê ra khiêu vũ.
    Là con riêng của bà Hêrôđiađê, cô đang tuổi thanh xuân, sắc hồng lộng lẫy, óng ánh và yêu kiều trong những trang sức tuyệt đẹp. Cô có những điệu múa mê hồn mà cô đã học tập từ lâu.... Hôm ấy bà Hêrôđiađê giới thiệu cô ra nhảy để làm vui cho quý khách, nhất là nhà vua.
    Nhà vua rượu đã ngà ngà, quý khách đã choáng váng. Salômê nhảy múa khéo léo nhịp nhàng, với đủ cách lẳng lơ khêu gợi. Từ đám khách với những trận cười vang lên, những tiếng hoan hô chỗi dậy với những tràng pháo tay khen ngợi. Nhà vua rất mực hả dạ, lòng xuân dâng lên, lửa tình bốc cháy, liền vời cô lại và hỏi :
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  11. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    --Con xin gì không ? Con xin điều gì, Ta cho điều ấy . Nhà vua còn giơ tay lên thề :
    --Dù con xin một nửa nước, Ta cũng cho.
    Salômê sung sướng lắm. Nhưng không biết phải xin gì, cô chạy ra hỏi bà Hêrôđiađê :
    --Thưa mẹ, Hoàng thượng thề hứa cho con mọi cái, vậy con xin cái gì ?
    Nắm ngay dịp tốt, bà bảo con :
    --Con hãy xin cho được đầu Gioan Tẩy Giả.
    Salômê biết cái đó làm vui lòng mẹ lắm, cô chạy vào tâu vua :
    --Bẩm Hoàng thượng, con muốn được Hoàng thượng cho ngay cái đầu ông Gioan Tẩy Giả để trong đĩa này.
    Nghe lời nói đó, nhà vua buồn, hối hận vì thề bất cẩn. Nhưng không rút lời lại được nữa, đã quá thề rồi, thề trước một cử tọa đông...Nhà vua liền sai tên đao phủ xuống ngục truyền chặt đầu ông Gioan.... Mấy phút sau, người ta thấy tên đao phủ mang lên một chiếc đầu đặt trên một đĩa lớn. Ðó là chiếc đầu đẫm máu của ông Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri lớn nhất của xứ Giuđêa và là tiên tri của Chúa Cứu Thế. Tên đao phủ trao đĩa đó cho cô Salômê và cô chạy ra đưa cho mẹ.
    Ðược tin thầy bị hạ sát, các môn đệ của ông Gioan đến ngục lấy xác chôn cất cho ông, rồi đi đưa tin buồn cho Chúa. Cũng sau ngày đó, một số các ông được Chúa Giêsu cho đi theo truyền đạo. ( Thánh Gioan Tẩy Giả, còn có tên gọi là Gioan Tiền Hô )
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  12. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Những Ngụ Ngôn
    ÊM ÐỀM VÀ Ý NGHĩA .....
    Một ngày kia, đang lúc ở Caphanaum, Chúa bỏ nhà ông Phêrô xuống biển hồ Tibêrát. Dân chúng đến rất đông, chật ních cả bãi, khiến ngài phải xuống thuyền ngồi trên mũi để giảng.

    Hôm ấy, Ngài dùng nhiều ngụ ngôn cụ thể lấy trong đời bình dân để đưa cách êm đềm vào lòng dân những sự thật cao cả về Nước Chúa. Ngài phán :
    --Các con hãy ý tứ nghe ; kìa người gieo giống đi gieo hạt giống. Ðang khi gieo, một phần hạt rơi bên bờ ruộng bị những kẻ đi qua dày xéo và lũ chim sẻ đói mồi tới ăn. Một phần khác rơi vào đất sỏi ( tức là nơi ít đất ) Hạt giống mọc lên, nhưng thiếu rễ sâu, nên gặp sức nóng mặt trời, đã khô héo. Một phần nữa rơi vào bụi gai, và gai mọc mạnh hơn, làm chết nghẹt. Sau cùng, một phần rơi vào đất tốt và tới mùa kết quả, hạt được ba mươi, hạt được sáu mươi và hạt được một trăm.
    Bài ngụ ngôn khéo chọn, làm dân chúng say mê, nhưng họ chưa hiểu hết ý nghĩa. Chính các môn đệ cũng vậy. Các ông thích lắm, nhưng chưa hiểu ra, nên về sau các ông đến xin Ngài giải thích :
    --Thưa Thầy ! Sao thầy lại giảng bằng ngụ ngôn cho dân ?
    Chúa nói :
    --Ai có càng được ban thêm. Ai không có, cái nó có, sẽ bị lấy mất. Các con là những người được quyền biết những nhiệm mầu của Nước Trời, nên Thầy có thể nói rõ rệt, không cần dùng ngụ ngôn. Nhưng dân chúng chưa được chuẩn bị sẵn sàng như các con.
    Họ chưa thực tình cải thiện đời sống. Lòng họ còn khô, chưa mềm nên họ cũng chưa được quyền như các con. Bởi thế thầy phải nói với họ xa xa, bằng ngụ ngôn, vì họ có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có trí năng mà không hiểu. Và cũng tốt là họ chưa nhận ra hết trách nhiệm của họ, vì càng nhận ra càng mắc lỗi nhiều. Họ là những người bị Thiên Chúa ám chỉ trong sách tiên tri Isaia “Lòng chúng cứng rắn, chúng giả điếc không muốn nghe, chúng nhắm mắt kẻo xem thấy. Chúng không muốn hiểu và cũng chẳng muốn hối lỗi. Nếu chúng muốn, Ta sẽ cứu. Nhưng nào chúng có muốn đâu !”
    Chúa nói tiếp :
    --Các con thật có phúc vì mắt và tai các con được xem, được nghe chính những điều tiên tri, và những người công chính muốn xem, nghe, mà không được.
    --Các con chưa hiểu bài ngụ ngôn ư ? Ðễ lắm, bài đó nói về người gieo lời của Ðức Chúa Trời. Hạt giống chính là lời Thiên Chúa. Ai nghe mà không hiểu, thì lời Chúa gieo vào lòng người ấy như hạt giống gieo rơi vào bờ ruộng, ma quỷ là thứ sẻ đói mồi đến nhặt lấy ngay. Ai nghe mà vui nhận, nhưng không có rễ sâu, nghĩa là còn theo sự thế tục,
    thì lời Chúa rơi vào lòng họ như hạt giống gieo và đất sỏi. Hạt giống sẽ mọc lên, nhưng không mấy chốc, gặp cơn thử thách và bách hại vì đạo, họ sẽ nản lòng từ bỏ. Tiếp theo hạt rơi vào bụi gai, đó là lời Chúa gieo vào lòng người những kẻ ham mê thế tục, tham tài tham sắc. Lời đó sẽ bị chết ngạt vì những dục vọng của người ấy, và không kết quả. Sau cùng, hạt giống rơi vào đất tốt, đó là lời Chúa gieo vào lòng những người tốt lành và quảng độ. Họ nghe rồi hiểu và thực hành. Nên lời Chúa kết quả mỹ mãn.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  13. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Chúa còn tiếp tục giảng cho dân về Nước Trời bằng tỉ dụ. Ngài dùng ngụ ngôn luôn luôn, Ngài đã thực hiện lời tiên tri xưa nói về Ngài : “Ta sẽ lấy tỉ dụ để nói những điều còn bí ẩn từ ngày cấu tạo thế giới.” Ngài phán tiếp : --Nước Trời giống như hạt cải nọ gieo ngoài vườn. Nó bé nhất trong các hạt, nhưng rồi nó lớn lên cao hơn mọi thứ rau và người ta có thể ví nó như một cây có ngành thực sự để chim trời có thể tới đó đậu và làm tổ.
    Ý Ngài muốn nói : Bước đầu của Nước Trời không sáng lạn huy hoàng, chỉ đơn sơ thôi. Nhưng rồi với thời gian, Nước Trời sẽ phát triển mạnh mẽ, như sức phát triển mạnh mẽ của hạt rau, tới nỗi một ngày kia Nước Trời sẽ lan rộng bao trùm cả thế giới vượt qua mọi tổ chức của trần gian.
    --Nước Trời cũng giống như một số men người thiếu phụ ủ trong ba thúng bột, chẳng bao lâu sẽ làm cho cả khối bột dậy men ( Chúa nói về sức cảm hóa của Nước Trời )
    --Nước Trời cũng giống như kho vàng chôn dưới đất ruộng. Một người kia gặp thấy, vội lấy dấu đi, và lòng vui mừng, chạy về nhà bán ngay mọi vật để mua cho được thửa ruộng có vàng ấy. Hay Nước Trời cũng giống như hạt trân châu lạ. Người tìm đồ châu báu gặp được, liền bán mọi sự để mua cho được hạt trân châu ấy.
    Ý Chúa muốn nói : Giá trị của Nước Trời giống như (và hơn) kho vàng và hạt trân châu. Ai khám phá ra giá trị ấy, sẽ sẵn sàng hy sinh mọi sự, có khi cả tính mạng nữa, vì sự giá trị kia... Chúa nói thêm :
    --Nước Trời cũng như cánh đồng, người chủ điền đã gieo lúa tốt. Ban đêm đầy tớ ngủ, kẻ thù đến gieo cỏ lùng vào. Khi lúa bắt đầu lên bông, cỏ lùng cũng xuất hiện. Bấy giờ đầy tớ mới trình với chủ rằng : Thưa ông, ông đã không gieo lúa tốt ư ? Thế sao bây giờ lại thấy có cả cỏ lùng ? Chủ bảo : “Kẻ thù đã làm như vậy đó” Ðầy tớ tức giận : “Thế nếu ông muốn, tôi sẽ đi nhổ sạch cỏ ngay” Chủ can : “Không, thong thả đã, kẻo khi nhổ cỏ, các con làm hại cả lúa nữa. Cứ để cả hai mọc lên cho tới mùa, bấy giờ ta sẽ bảo thợ gặt cắt cỏ trước, bó vào từng bó và đốt đi. Còn lúa, ta sẽ thu đưa vào lẫm.
    --Sau cùng, Nước Trời còn giống như tấm lưới thả xuống biển để thu nhặt mọi thứ cá.
    Lúc lưới được đầy cá kéo lên, người ta sẽ ngồi trên bãi và lựa chọn, cá tốt bỏ vào rổ, cá xấu vất đi. Ðến ngày tận thế cũng vậy, thiên thần sẽ xuống lựa chọn, loại kẻ dữ ra khỏi người lành. Người lành được đem về nơi vĩnh phúc. Còn kẻ dữ sẽ bị vất vào lửa, nơi khóc lóc nghiến răng.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  14. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Những bài ngụ ngôn êm đềm và ý nghĩa về Nước Trời làm dân chúng cảm phục lắm, họ ra về, lòng dạ an vui. Cũng là lần đầu tiên họ được nghe những lời nhẹ nhàng và cao siêu như thế. Các môn đệ cũng vậy. Ai nấy đều vui mừng, các ông thích nhất tỉ dụ về người gieo. Nên lúc Chúa về nhà, các ông đến xin Ngài giảng nghĩa cho rộng thêm, các ông thưa : --Xin thầy giảng nghĩa cho chúng con về dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa.
    Chúa giảng :
    --Kẻ gieo hạt là Con Người (tức chính là Chúa) Ruộng lúa là thế gian. Hạt lúa tốt là con cái của Nước Chúa (chỉ những người nghe và thực hành lời Chúa ) Cỏ lùng là con cái sự dữ. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là lúc tận mạt thế gian. Thợ gặt là Thiên thần. Cũng như cỏ lùng sẽ bị bó lại và đốt đi, thì ngày thận thế cũng vậy. Con Người sẽ sai Thiên thần xuống thu hợp những kẻ xấu nết và tội lỗi mà đốt đi trong lửa sinh diêm không tắt.
    Còn người lành thì sẽ được đưa về trời hưởng phúc cực lạc, và được sáng chói như những định tính trong Nước Ðức Chúa Cha.
    Dứt lời Ngài hỏi :
    --Thế các con đã hiểu cả chứ ?
    Các ông thưa : “Vâng”..... Và Chúa khuyến dụ :
    --Tốt lắm, vậy các con hãy nhận định : Ai muốn thụ pháp làm môn đệ Nước Trời, người ấy phải tập trở nên một giảng sư biết giảng Nước Trời cho kẻ khác. Người ấy phải giống như một gia trưởng, biết lấy trong kho của mình, lúc của mới, lúc của cũ, tùy cơ..
    ( Lúc giả thích Luật Mới, lúc giải thích Luật Cũ, tùy trường hợp ) Các con là muối đất, nhưng nếu muối nhạt, thì còn muối vào đâu ? Các con biết người ta không dùng muối nhạt nữa, người ta sẽ vất đi hay đổ ra đường cho thiên hạ dẫm.
    --Các con là ánh sáng thế gian. Các con là thành xây trên đỉnh núi, nhưng thành ở nơi đó không thể giấu mắt ai được, cũng như ánh sáng đã được thắp lên, không phải để giấu trong thùng, nhưng là để chưng trên đế cho nó soi sáng mọi người trong nhà. Vậy ánh sáng của các con cũng phải sáng trước mặt mọi người, ấy là các con phải làm việc thiện, để thấy việc thiện các con làm, người ta sẽ nhận ra Ðức Chúa Cha, đang ngự trên trời là Cha các con.
    --Các con chú ý đêu nữa : Trong thân thể đâu là điểm sáng ?...Ðiểm sáng chính là con mắt các con. Nếu con mắt sáng, bản thân con cũng theo đường sáng. Nếu con mắt xấu và mờ, bản thân con cũng sẽ bị mờ lây. Vậy các con ý tứ giữ mình, kẻo chính điểm sáng là con mắt các con lại trở thành điểm tối, làm các con phải phàn nàn đi trong tối tăm. Các con hãy lo cho con mắt các con sáng sủa, để bản thân các con sáng sủa, và bản thân các con sáng sủa, thì vinh dự dường nào cho các con !
    Ý Chúa muốn kết bài huấn dụ : Thầy đã nói : Các con là ánh sáng, phải soi sáng cho thế gian. Nhưng cho được như vậy, các con phải giữ trí khôn sáng sủa luôn. Trí khôn đối với cả con người cũng như con mắt đối với cả thân xác. Mắt sáng, cả thân xác cũng sáng theo. Mà sở dĩ trí khôn sáng, là vì biết kiểm nhận sự thật, biết theo sự thật, biết hiểu và thi hành những điều Thầy đã và sẽ chỉ dạy cho các con. Vậy các con hãy tìm hiểu và tin theo những lời Thầy đã nói, cũng như các con hãy sẵn sàng đón nhận những điều Thầy sẽ dạy thêm. Nếu các con nghe lời Thầy như vậy, toàn thể con người của các con sẽ hiển vinh.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  15. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Gái Giang Hồ Trở Về Sám Hối... Một buổi chiều đẹp, sau những tia nắng vàng dịu, một cơn gió thổi, báo trước một đêm mát mẻ bình an. Cũng buổi chiều ấy, ở Magdala, một thị trấn nhỏ bên bờ hồ Tibêrát, ông Simôn thiết tiệc đãi Chúa Giêsu, và Ngài đã đến nhà ông đúng hẹn.
    Ông Simôn đã nghe người ta đồn thổi nhiều về Chúa ; người nói Ngài là tiên tri, kẻ bảo người là cứu thế. Nên ông thiết tiệc mời Chúa đến nhà để chính mắt ông đoán định cho chính xác.
    Ông là người Biệt Phái, nên bạn hữu ông, một số Biệt Phái cũng được mời. Những người này vốn nghi kỵ Chúa, ông biết chuyện đó lắm, và có khi vì vậy họ còn trách ông không khôn là khác. Nhưng ông cứ mời. Tuy nhiên, hình như để tỏ cho họ biết mời tiệc chưa phải là cảm phục và quý mến, nhưng còn có thể có một ẩn ý khác. Nên Chúa đến, ông giả vờ quên đưa nước rửa chân, thoa dầu và ôm hôn Chúa như tục lệ trong nước.....
    Do Thái có nhiều tục lệ lắm, và trong đó đáng kể là tục lệ mời khách đến nhà dự tiệc ở những gia đình sang. Khi khách được mời tới những nơi đó, người ta phải thi hành cả một nghi thức tỉ mỉ. Trước hết một tên nô bộc bưng chậu và một bao da đựng nước sạch
    ra. Khách ngồi xuống ghế, tên nô bộc cúi cởi đôi dép của khách, đổ nước rửa chân cho khách. Tiếp đến việc đổ dầu thơm trên mặt, trên cánh tay và trên chân khách, vừa đổ vừa thoa, để khách cảm thấy dễ chịu, hết ngứa ngáy, da thịt mát thơm sau những giây phút chịu nóng bức và bụi bặm lúc đi đường...Xong đó, khách được đưa vào nhà trong, ở đây chủ khách ôm hôn nhau, trước khi chủ giới thiệu khách với những người đã đến.
    Tới giờ ăn mọi điều đã sẵn, chủ đưa khách tới bàn ăn. Bàn này thường được dọn trong một phòng rộng hay một rạp lớn trang hoàng lịch sự. Phòng rộng hay rạp lớn đó mở cửa bốn phía. Những người không được mời cũng có thể tới xem và nói chuyện với khách, cả những người hành khất cũng có thể đến xin ăn, miễn là ngồi cách xa một ít.
    Bàn ăn hình móng ngựa, được vây quanh bằng những ghế dài không có tựa và nghiêng nghiêng, đầu này cao đầu kia thấp. Chủ khách mỗi người đều nằm trên một trường kỷ để ăn. Họ nằm ghé chõng mình trên tay trái, ăn bằng tay phải, chân duỗi thẳng ra cuối ghế.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  16. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Vậy chiều hôm ấy Chúa đã đến dự tiệc ở nhà ông Simôn, Ngài nằm trên một chiếc ghế. Tiệc đã bắt đầu... Một lúc, ở những cửa chung quanh nhà tiệc có những cặp mắt tò mò dòm xem, có tiếng thì thầm nữa. Nhiều khách ăn khó chịu. Họ quay nhìn chung quanh. Thì ra một việc bất ngờ đã xảy đến : Có một thiếu phụ đẹp, có tiếng là giang hồ, đang khóc lóc và ôm chân Chúa.
    Thiếu phụ đẹp đó là ai ?
    Là một giai nhân nức tiếng ở thành Magdala bên bờ hồ. Nàng nhan sắc lộng lẫy, tiếng nói thanh thanh, dáng dấp kiều mị ; lại có tâm tình đa cảm, thích yêu thương, nhiều mánh lới mua lòng và tài nghề trang sức. Nàng đã qua những ngày xanh để theo tiếng gọi của tiền tài và tình ái, đã bán rẻ xác thịt cho mọi khách mua vui, bất kỳ người bình dân hay quyền quý, miễn sao hả được dục tình và tìm ra của nhất là tiền bạc. Nói tắt, nàng đã thành một gái chơi, quên cả liêm sỉ và tự trọng, chỉ có biết tô điểm và giang hồ để được mọi người chú ý. Vì thế, nên chính tên là Maria, nhưng người ta đã tặng cho nàng cái tên nhuốc hổ : “Gái đĩ Magdala” hay là “Madalena gái nhảy”.
    Tuy nhiên ít lâu nay nàng muốn đổi đời sống, vì nhiều khi nghe người ta thuật lại đạo lý Chúa Giêsu. Một đạo lý chứa đựng lòng yêu thương bao la, nhưng trong sạch và cao cả. Ðạo lý đó thấm nhập lòng nàng mỗi lúc mỗi sâu, khiến nàng cảm thấy đời sống cũ của nàng đê nhục, chua cay và đáng trách. Nàng đã hối lỗi ăn năn, ngửa mặt lên trời xin ơn tha thứ. Cũng có lần nàng sa lệ, vì nghĩ đến những công việc làm hồn xác nàng tổn thiệt đau thương. Nàng đã tin tưởng vào sứ mạng cứu thế và lòng thương của Chúa lắm. Nàng dự định, nhất quyết sẽ đi gặp Ngài để xin ơn tha thứ và cảm tạ Ngài đã đưa nàng ra khỏi bùn nhơ tội lỗi, cũng như đã làm cho lòng nàng sống lại bởi một tình yêu trong sạch cao siêu. Bởi vậy nàng đã lưu tâm tìm dịp gặp Chúa, và có lần đã đi xem, nghe Chúa giảng, để sau nhận được Ngài. Thì may quá, hôm ấy được tin đích xác Chúa sẽ đến dự tiệc ở nhà ông Simôn, nàng liền đi mua bình thuốc thơm bằng tuyết thạch để chiều đi gặp Ngài....
    Chiều hôm ấy, tiệc mới bắt đầu, người ta đã thấy nàng đến nhà ông Simôn, nhìn qua quần áo và nét mặt, người ta đã biết ngay nàng là ai, nên người ta tránh và thì thào với nhau...Nhưng nàng cứ vào thẳng không để ý đến ai hết. Tới bàn ăn, nàng đưa mắt nhìn quanh bàn một lượt để nhận ra Chúa ở chỗ nào, rồi lần đến sau chân Ngài, quỳ xuống ôm hôn chân Ngài, và đổ thuốc thơm. Rồi nức nở khóc, nước mắt rơi đẫm cả chân Ngài nàng xở tóc ra lau lọt....Rồi nàng lại hôn, lại lau, lại khóc ; hết khóc lại lau, hết lau lại khóc, cứ vậy không cùng.....
    Cảnh tượng đó làm mọi người bỡ ngỡ ; một đàng Chúa được coi là nhà tiên tri, chuyên nghề giảng đạo đức, lại có tiếng là thánh thiện ; một đàng Madalena là cô gái đang xuân và nhan sắc, có tiếng là chơi ngang. Vậy mà cô dám ôm chân nhà tiên tri, và sao Ngài tiên tri lại dễ tính thế ? Không những vậy, lại còn ôm chân hôn khóc lóc tỏ tình ở một nơi công cộng giữa một bữa tiệc toàn là những người đứng đắn ! Như vậy mà coi sao được ? Ðó là ý tưởng của cử tọa. Không ai bảo ai, cũng như không ai dám chỉ trích ra lời, nhưng mọi người cùng nghĩ thế. Riêng ông Simôn, ông càng khó chịu và tức bực hơn. Ông có cảm tưởng như chúng bạn của ông còn khó chịu và phiền vì ông là khác nữa. Nên ông phê bình Chúa trong lòng rằng : Nếu quả thực Thầy là sứ giả của Chúa, là tiên tri, ắt phải biết kẻ động đến mình là ai và thuộc hạng người nào. Ắt phải biết nó là một đứa khốn nạn tội lỗi và phải đuổi nó đi xa, như phải xua đuổi một con chó ghẻ, chớ sao lại để nó ôm hôn và khóc sụt sùi chỗ này !
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  17. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Thế là bữa tiệc vui đã gây bầu không khí buồn tẻ. Cử tọa đều khó chịu, mắng trách trong lòng và khinh dể Madalena cũng như tặng cho Chúa những tiếng thầm không đẹp Madalena biết thế và trước kia đã ngờ như vậy. Nhưng nàng đã tin vững chắc vào lòng thương cao cả và vô cùng sáng suốt của Chúa, nên nàng đã đi gặp Ngài. Bởi vậy, bây giờ đây đã tới đích, nàng mặc cho kẻ hiểu lầm, người chê bai. Nàng cứ ôm hôn cứ khóc, cứ lau. Nàng đập vỡ cả cổ bình ra để đổ thuốc thơm cho Ngài. Bây giờ ở bên chân Chúa nàng đã quên mọi sự, tâm hồn đã bị lôi cuốn theo dòng cảm động mãnh liệt không cầm lại được nữa. Nàng cảm thấy Ðấng nàng hôn chân, rõ rệt là cứu thế, nhân từ vô cùng, phép tắc và thánh thiện vô biên, đã tha mọi tội cho nàng, và đã mở lòng nàng đón lấy một tình yêu khiết tịnh, cao rộng không biên giới. Nàng cảm thấy vô cùng an ủi của rượu tình, và vui sướng làm lòng say đắm. Nàng vẫn khát tình yêu và ngày ngày đi tìm tình yêu như người thiếu phụ Samaria ngày ngày đi múc nước ở giếng Giacóp về uống cho đỡ khát, nhưng cứ khát luôn, khát mãi. Và đến bây giờ nàng mới thấy giãn khát, bây giờ mới thấy rằng từ trước tới nay, dưới những hình thức yêu thương của người đời, người ta đã ghét, đã khinh dể và xỉ nhục nàng, cũng như người ta đã giả mạo yêu thương cốt để thỏa mãn một cách khốn nạn cái lòng dâm dục quá trớn.
    Bây giờ đây, nàng mới thấy thực yêu và được yêu, một tình yêu chân thật thiết tha, vững bền cao quí, một tình yêu dập tắt mọi nhục dục trong thân thể, làm linh hồn trong sạch nhẹ nhàng và lòng trí quang minh, bay theo những tư tưởng cao xa của Chúa. Bởi vậy nàng muốn ngồi mãi ở đây để nói với Chúa những lời cám ơn và yêu mến. Nhưng làn sóng cảm động đã đè ép lòng nàng, làm nàng nghẹn họng nói chẳng ra lời. Ðồng thời mắt nàng sưng lên, những suối nước ở đâu tự nhiên tuôn chảy, chảy không cùng.
    Nàng chỉ còn biết khóc thôi, khóc vì sung sướng, khóc vì mừng vui, khóc vì yêu mến, khóc để cám ơn cũng như khóc để rửa sạch đời sống cũ và để đón lấy đời sống mới tươi đẹp Chúa đã ban....
    Nhưng nếu không ai hiểu được tâm trạng đích thực dưới những cử chỉ của Madalena, thì Chúa đã hiểu tâm trạng đó rất rõ. Ngài đã thấu suốt linh hồn nàng từ lâu và cả bây giờ nữa. Ngài biết trước kia nàng tội lỗi thật, nhưng lâu nay nàng đã khác. Với nước mắt và lòng hối lỗi ăn năn, linh hồn và đời sống nàng đã đổi hẳn, thân thể nàng đã sạch trong. Vì vậy, Ngài không lấy làm lạ, không đuổi nàng đi, và còn làm ngơ cho nàng động đến chân Ngài để thông cho nàng một sức thánh thiện đặc biệt và hướng lòng nàng theo những quyết định anh hùng cùng những ý tưởng cao xa. Ngài xuống thế để cứu đời và thân thể của Ngài có thể dùng như ống máng dẫn mọi ơn. Vì thế, Ngài đã để tay cho kẻ điếc nghe, kẻ câm nói, kẻ mù xem ..v..v.... và kẻ chết sống lại, nghĩa là Ngài đã khoan dung cho mọi thứ người bệnh tật và tội lỗi đụng tới Ngài để được cứu rỗi. Nên hôm nay, cũng theo chương trình cứu rỗi nhân từ và đồng nhất ấy. Ngài để cho một thiếu phụ trước kia là gái đĩ, nhưng bây giờ đã thánh thiện, đụng đến chân Ngài để được thánh hóa.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  18. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Nhưng rồi Ngài đưa mắt nhìn chung quanh. Ngài đọc thấy ý nghĩ của những người đứng xem và mọi người dự tiệc. Những ý nghĩ đó hơn kém đã được thu gọn trong câu phê bình thầm kín của ông Simôn và đang được diễn ra ở dưới ánh mắt mọi người, làm không khí bữa tiệc hóa nặng nề khó thở. Nên Ngài lấy một tỉ dụ hai người khê nợ để phá tan bầu không khí đang nặng nề đó. Ngài quay nhìn ông Simôn, trao qua không khí im lặng cho ông một câu ngỏ ý :
    --Simôn, Ta có một chuyện muốn nói với ông.
    Ông Simôn thưa : “ Vâng, xin Thầy cứ dạy”
    Ngài kể :
    --Ngày xưa một chủ nợ nọ cho hai người vay nợ. Người thứ nhất vay năm trăm đồng.
    Người thứ hai vay năm mươi đồng, về sau cả hai cùng khê nợ, không thể trả, chủ nợ phải tha không. Vậy theo ông, trong hai người đó, ai phải biết ơn chủ nợ và mến chủ nợ nhiều hơn ?
    Ông Simôn thưa :
    --Dạ. Theo tôi nghĩ, cố nhiên kẻ được tha nhiều hơn.
    Chúa phán :
    --Chính thế, ông xử đoán rất phải.
    Rồi Ngài quay về phía thiếu phụ nói với ông Simôn :
    --Vậy này, ông hãy xem người thiếu phụ đây. Từ lúc Ta vào nhà ông đến bây giờ, ông không cho đưa nước rửa chân Ta, nhưng người này đã lấy nước mắt rửa chân Ta, và lấy tóc mà lau sạch. Ông cũng không hôn Ta, nhưng người này từ lúc tới đến giờ, hôn chân Ta không ngớt. Vả nữa, ông đã quên đổ thuốc thơm lên đầu Ta, nhưng người này đã đổ thuốc thơm quí giá vào chân Ta. Vậy Ta nói để ông hay : Ai được tha ít thì yêu ít. Riêng người này đã yêu nhiều, nên nhiều tội đã được tha....
    Người thiếu phụ vẫn lặng quỳ dưới chân Chúa. Nàng đang áy náy đợi một cái nhìn hay một câu Chúa nói với nàng, thì Chúa đã quay nhìn và phán bảo :
    --Mọi tội con đã được tha.
    Nàng vui quá....cả tâm hồn mở rộng thênh thang. Nàng vui như mê say ngây ngất...
    Nhưng cử tọa nghe Chúa nói thế, đều lấy làm lạ. Họ nghĩ thầm rằng : “Ông này là ai mà dám tha tội cho người khác ?”
    Nhưng Chúa đã phán thêm với người thiếu phụ :
    --Thôi con về bình an. Ðức tin của con đã cứu thoát con.
    Người thiếu phụ đứng dậy ra về, lòng đầy vui mừng, tâm hồn vấn vương bên Thầy chí thánh. Và cũng như lúc vào, nàng im lặng đi ra, toàn thân hiện lên một đời sáng đẹp, xuyên qua bức màn đen của đêm tối.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  19. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Từ Lo Lắng Ðến
    GHEN TỴ VÀ GIẬN DỮ....
    Một ngày kia đang lúc ở Caphanaum, dân chúng đến nhà Chúa trọ đông hết sức. Ai ai cũng muốn xem và nghe Ngài. Họ làm bận rộn tới nỗi Ngài và các môn đệ không có giờ để ăn. Ngày hôm ấy lại thêm nhiều người ở Nazareth đến nữa, đó là những bà con thân thuộc của Ngài, họ đến để tìm nói với Ngài một chuyện, hay nói đúng hơn gọ đến để bắt Ngài về.
    Tại sao vậy ?
    Là vì từ ít lâu nay, trong họ hàng Ngài đã nổi lên một câu chuyện làm nhiều người lo lắng. Sự thực người ta không có gì để đặc biệt để trách Ngài, người ta thấy Ngài bỏ nhà ra đi, hy sinh chịu khó nhọc giảng giải, và làm phép lạ chữa mọi bệnh nhân. Cái đó được lắm. Nhưng kết quả của bấy nhiêu hy sinh và công cuộc là gì ? Là những thực tại rất mỉa mai : Kẻ gọi Ngài là phù thủy, chuyên dùng phép quỷ để lừa dân ; người bảo Ngài là kẻ hão huyền và ngu dại, đầu óc mất thăng bằng, thích nói những chuyện vu vơ
    Hơn nữa một số người khác (nhóm Biệt Phái và giới Ðạo trưởng) nghi cho Ngài là một tay cách mạng, muốn chiêu dân lật đổ chính quyền. Vì thế họ hàng Ngài đâm lo, họ lo vì cha Ngài đã khuất rồi, nhỡ có chuyện rắc rối xảy ra, bao nhiêu trách nhiệm sẽ đổ dồn lên đầu họ hết. Họ lo âu vì biết đâu một ngày kia, người ta sẽ chẵng tố cáo họ về tội xui Ngài làm loạn, hay biết Ngài làm loạn mà không ngăn cản ; biết đâu một ngày kia vua Antipas chẳng bắt giam Ngài như bắt ông Gioan. Và sau đó biết bao là rắc rối về chính trị, rắc rối cho cả họ hàng...Bấy giờ hỏi họ có được yên không ? Vì lẽ đó, hôm ấy họ cùng đi để bắt Ngài về, bắt về để Ngài sống với nghề cũ cho xong, và dễ để được việc. Họ bắt ép cả Mẹ ngài đi nữa. Vì thế Mẹ Ngài cũng phải đi với họ. Nhưng Bà đã tin tưởng và hiểu biết sứ mạng của Con, nên tuy cùng đi đường với họ, trong lòng Bà đã có những quan niệm rất khác.
    Họ đã tới nhà Chúa ở, nhưng dân đông quá, không chen vào được, vì thế họ đứng ngoài gọi với vào. Và có kẻ nghe thấy, chuyển tiếng vào trong :
    --Thưa Thầy ! Có Mẹ Thầy và cả anh em họ hàng Thầy đợi ngoài cổng muốn gặp Thầy
    Ngài đáp :
    --Ai ?...Ai là mẹ Ta và ai là họ hàng anh em với Ta ?
    Rồi Ngài nhìn các môn đệ ngồi chung quanh Ngài. Ngài giơ tay chỉ các ông và nói với dân :
    --Ðây là mẹ Ta và đây là họ hàng anh em Ta. Ta bảo thật : Tất cả những ai nghe lời Chúa và làm theo ý Chúa, những người ấy đều là mẹ Ta, là anh em và chị em của Ta.
    Ngài ngụ ý nói : Ðối với Ngài, những giây thân ái của linh hồn và con tim còn khắng khít hơn những giây thân ái của huyết thống. Bởi vậy, Mẹ Ngài đã sinh ra Ngài, lại đã thấu hiểu và yêu Ngài. Bà còn mật thiết với Ngài bằng danh hiệu tình yêu hơn bằng danh hiệu người mẹ. Do thế Mẹ Ngài đáng được Ngài yêu hơn một người mẹ nữa. Nhưng còn anh em họ hàng Ngài ư ? Thì đây : Ai nghe và thực hiện lời Ngài, người ấy chính là anh em họ hàng với Ngài đó...
    Nghe Ngài nói vậy, Mẹ Ngài hiểu và vui lắm. Nhưng họ hàng Ngài không hiểu, đâm tức giận, tuy nhiên biết Ngài đang có thế mạnh đối với dân, và biết không thể dụ dỗ hay bắt Ngài về được, nên họ chịu phải rút lui, tức bực, trở về Nazareth...


    Từ đó ở Nazareth người ta càng bàn tán về Ngài, dĩ nhiên trong số đó có những người bất mãn ở Caphanaum hôm trước. Nhưng dầu biết vậy, mấy hôm sau Ngài cũng bỏ Caphanaum trở về chính làng Ngài đã trưởng thành và cho môn đệ đi theo.
    Lần này Ngài lưu lại ở quê lâu, và Ngài nhận ra rằng ở đây chỉ có số ít phục Ngài, còn phần nhiều họ khinh khi và ghen tỵ. Họ khinh vì họ tự phụ biết cả cha mẹ và dòng tộc của Ngài, nên họ vốn coi Ngài là anh thợ mộc, không hơn không kém. Họ còn ghen hơn nữa, vì thấy Ngài làm được phép lạ ( bất biết phép lạ đó bởi quỷ hay bởi đâu ) nhưng sao Ngài chỉ làm ở Caphanaum mà không làm ở quê hương, để quê hương được hãnh mặt...
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
  20. khiradi

    khiradi Active Member

    Tham gia ngày:
    20/10/09
    Bài viết:
    804
    Đã được thích:
    86
    Điểm thành tích:
    28
    Nghề nghiệp:
    SV
    Nơi ở:
    Cổ Nhuế
    Ngài nhận thấy thế, nên tuy Ngài ở lâu, chủ ý mưu ích cho người đồng hương, nhưng không được việc. Ngài chỉ chữa được mấy người liệt thôi, vì số kẻ tin Ngài ít lắm.. Một ngày thứ bảy nọ, Ngài thuyết đạo ở Giảng đường, Ngài nói khéo lắm, nên người ta kính phục và lấy làm lạ. Người ta hỏi nhau “Ngài học ở đâu mà nói khéo thế ?..Ngài còn làm được phép lạ nữa ! Ngài quyền phép đến bậc nào ?..” Nhưng rồi những kẻ không ưa Ngài lại dèm ngay : Tuy nhiên Ngài cũng chỉ là con ông Giuse thợ mộc và bà Maria. Và anh em họ hàng Ngài ai mà không biết ? Ðó chẳng phải là các ông Giacôbô, Simôn, và Giuđa cùng mấy người chị em, cô dì Ngài đang ở với chúng ta ư ? Họ nghèo lắm có gì ?
    Ngài thấy rõ họ khinh Ngài lắm, và biết có nhiều kẻ lẩm bẩm rằng : Ngài được nhiều phép lạ thế sao Ngài không cứu Ngài, mẹ Ngài và anh em bà con Ngài khỏi túng thiếu.
    Nên một ngày thứ bảy khác, cũng trong Giảng đường. Ngài nói trắng thẳng rằng : Ta biết có kẻ muốn vứt vào mặt Ta những lời sau đây : “Thầy thuốc hãy tự chữa mình” và “Những việc ông làm ở Caphanaum, hãy làm ở đây cho chúng tôi coi” Nhưng Ta bảo thật các người : Từ xưa tới nay, chẳng có tiên tri nào được vinh dự ở quê hương cả. Trái lại tiên tri nào cũng bị khinh chê, khinh chê cả trong gia đình và trong dòng tộc nữa. Vì thế mà xưa kia, giữa lúc đại hạn trong ba năm sáu tháng trời không mưa, đói khát tràn lan khắp nước, tiên tri Êlia không đến ở nhà một quả phụ nào trong nước Israel cả, tuy bấy giờ ở đó có nhiều quả phụ. Nhưng Ngài chỉ đến nhà một quả phụ ở Sarepta miền Siđôm để cứu bà. Cũng vì thế nữa, nên xưa kia đời ông Êlisiêu, tuy trong nước có nhiều người bệnh phong hủi, nhưng tiên tri chẳng chữa ai. Ngài chỉ chữa ông Naaman người xứ Syria. Vậy ở quê hương, người ta có tín nhiệm đâu mà là gì được....
    Nghe Ngài tuyên bố như thế, tất cả thính giả cùng nổi giận. Họ la lối : À ! Tên này muốn trọng quân ngoại hơn đồng chủng ! Hắn muốn chọc tức ; được rồi... Họ liền đứng dậy xô ghế, xông bắt Ngài giải ra ngoài thành và đưa Ngài lên một đỉnh núi gần thành xô Ngài xuống cho chết.
    Nhưng tới đỉnh núi, không hiểu sao, chẳng ai dám xô Ngài xuống cả. Họ quay nhìn nhau rồi im lặng...Chẳng ai dám phạm tới Ngài, cả những người cầm đá sẵn trong tay để ném Ngài cũng không dám ném nữa. Thế là Ngài lại ung dung đi qua giữa họ xuống núi về nhà.
    Ngài Truyền Cho Gió Lặng Sóng Im....
    Sau khi bỏ Nazareth, Chúa trở về Caphanaum. Ở đây và các miền chung quanh, người ta đều biết tiếng Ngài. Hàng ngày Ngài ra bãi biển giảng và dân đến rất đông, người ta ham nghe Ngài giảng lắm.
    Một hôm trời đã muộn, dân cứ ở lại không về, Chúa liền bảo môn đệ chèo thuyền sang đất Giêrasênô để giảng. Ðất này ở bên kia biển hồ về phía đông nam, cách Caphanaum chừng mười hai cây số, dân cư pha lẫn người Do Thái và người dân ngoại. Vâng lời, môn đệ dọn thuyền chèo đi ngay, và không mấy lúc thuyền đã ra khơi, bỏ xa dân lại trên bãi. Hôm ấy đi vội, các môn đệ chẳng ai kịp mang áo khoác để tránh rét lạnh ban đêm. Chúa cũng vậy. Ngài không mang đủ áo và sau một ngày vất vả giảng giải, Ngài mệt nhọc. Ngài đặt lưng ở đàng lái thuyền rồi ngủ ngay, đầu ghệch trên một chiếc gối gỗ. Lúc mới ra đi, gió thuận cánh buồm căng đẹp ; không cần chèo, thuyền cũng lướt trên những đợt sóng đều và nhỏ một cách nhẹ nhàng nhanh chóng.
    Gió thuận, thuyền xuôi, trời quang, biển lặng, thêm không khí mát mẻ êm dịu, các môn đệ đều vui. Các ông nói cười không dứt, trong lòng phấn khởi như người sắp được thấy cảnh lạ vật hay. Nhưng thuyền ra khơi được ít lâu, đột nhiên một trận gió lớn thổi dậy. Ðó là cơn lốc dữ đánh thẳng vào thuyền, đồng thời tung từng loạt sóng phủ lên con thuyền mong manh. Sóng vỗ mạnh...thuyền bắt đầu nghiêng lệch và lâm nguy ! Các môn đệ sợ hết sức, cố hạ buồm và chèo, nhưng đều vô ích cả. Gió càng mạnh, sóng càng to, nước càng hắt vào thuyền. Chỉ trong lát nữa thuyền sẽ chìm xuống biển, và mọi người nguy khốn. Trước cảnh đó, các môn đệ sợ luống cuống...Các ông nghĩ may ra chỉ còn nhờ phép lạ là thoát được thôi. Nhưng Chúa vẫn ngủ. Nên các ông chạy đến lay Ngài dậy và trình rằng :
    --Lạy Thầy ! Lạy Thầy ! Xin thầy cứu chúng con, kẻo chúng con chết. Thầy không biết chúng con sắp chìm ư ?
    Ngài ngồi dậy phán :
    --Sao các con sợ sệt và ít tin như vậy ?
    Nhưng rồi Ngài thấy môn đệ của Ngài sợ quá, xám mặt lại người thì run, quần áo ướt đẫm. Nên Ngài đứng dậy giơ tay lên làm phép lạ ngay. Ngài truyền cho gió “ Im ngay” và truyền cho biển “Lặng ngay” tức thì biển và gió đều im lặng.
    Con thuyền lại nhẹ nhàng lướt trên những đợt sóng nhỏ và đều như trước. Ðược thoát nạn, các môn đệ mừng quá, nhưng không khỏi kinh lạ. Các ông đã thấy Chúa làm nhiều phép lạ, nhưng phép lạ khiến được sóng gió thì đây mới là lần đầu. Nên các ông càng tin Ngài nhiều hơn. Các ông người lấy gầu tát nước, người sửa lại cọc chèo, người sắp kéo buồm lên, nhưng cùng nhau nhìn trộm về đàng lái chỗ Ngài vừa đặt lưng và nói nhỏ :
    “Thầy là ai mà cả sóng gió cũng vâng lời nhỉ ?”
    Hai Người Bị Quỷ Nhập...
    Sáng hôm sau, thuyền tới đất Giêrasênô, đối diện với xứ Galilêa. Bờ biển này nằm dốc thẳng, đây đó lởm chởm những mỏm đá cao nhô ra ngoài. Ở dưới những mỏm đá đó lác đác vài cái hang sâu.
    Chúa và các môn đệ Ngài vừa đặt chân lên đất, thì có hai người từ trong hang ra đón. Ðó là hai người bị quỷ ám từ lâu, cả hai đều hung bạo lắm. Một trong hai người đó rất dữ tợn. Anh ta không chịu mặc quần áo, không thích ở nhà, chỉ thích ở dưới huyệt, dưới hang. Ðã có lần người ta bắt trói lại và xiềng xích chân tay để anh khỏi phá phách và làm hại, nhưng anh ta dật đứt cả giây và bẻ cả xích. Vì thế anh ở đâu người ta không dám qua lại chỗ đó. Ngày ngày hai người bị quỷ ám ra khỏi hang, kêu la chạy cuồng loạn, xô vập vào đá. Họ rất khốn nạn. Nhưng không hay mình khốn nạn. Bởi vậy sáng hôm ấy vừa thấy họ, Chúa thương họ hết sức, Ngài truyền cho quỷ rằng :
    --“Hỡi quỷ dữ, hãy ra khỏi những người này.”
    Nhưng hai người bị quỷ ám, lăn vào chân Chúa kêu la :
    --Hỡi Giêsu Con Ðấng Tối Cao, Ngài đến đây làm gì ? Sao Ngài hành khổ chúng tôi trước thời kỳ đã định ?

    Ðó không phải là tiếng nói của hai người bị quỷ ám, nhưng chính là tiếng của quỷ dữ nói qua miệng hai người. Quỷ dữ biết tới ngày tận thế, hắn mới mất quyền ác hại người dương gian, nên hắn có ý nói với Chúa đừng ngăn cản hắn trước thời kỳ đó. Hắn lại kêu la : “Xin Ngài chớ đuổi chúng tôi ra khỏi miền này” Nhưng Chúa nghiêm nét mặt hỏi hắn :
    --Tên mày là gì ?
    Hắn thưa :
    --Tôi tên là quân đoàn, vì chúng tôi nhiều lắm. Nếu Ngài nhất định đuổi chúng tôi ra khỏi những người này, thì xin cho phép chúng tôi nhập vào đàn heo kia. Hắn giơ tay chỉ đàn heo đang chăn gần đấy.
    Chúa phán : “Ðược, Ta cho.”
    Tức thì quỷ dữ bỏ hai người, nhập vào đàn heo (lợn) và rầm một cái, cả đàn heo tới hai ngàn con, đâm nhào xuống biển chết chìm...Những người chăn heo thấy thế, sợ chạy vội vào thành ( Gerasa ) và các ngả báo tin cho mọi người việc lạ và những thiệt hại đã xảy ra. Họ kêu la như người hoảng lên, cả thành cùng náo động, mọi người chạy ra xem. Lúc tới nơi, họ thấy hai người bị quỷ nhập khi trước, đã lành mạnh, đang bình tĩnh ngồi dưới chân một tiên tri, họ đã biết tiếng, tên là Giêsu. Họ thấy anh chàng khi trước vẫn ở truồng, nay đã mặc quần áo. Họ xúm xít lại hỏi các môn đệ về việc lạ đã xảy ra. Các môn đệ kể cho họ nghe đầu đuôi phép lạ và lý do đàn heo chết chìm xuống biển.
    Nghe lời các môn đệ kể lại, họ mừng lắm. Mừng vì hai người bị quỷ nhập đã được lành, không còn làm hại họ nữa. Nhưng rồi những chủ mất heo đâm ra tiếc và phàn nàn.
    Những chủ chưa mất, thì sợ một ngày kia, do quyền phép Ngài, quỷ dữ lại xô những đàn heo khác xuống biển chăng. Nên thay vì cám ơn Ngài, họ yêu cầu Ngài đi sang xứ khác. Thấy họ quá ham của đời, không hiểu biết giá trị con người cùng linh hồn vượt trên con vật như vậy, Ngài cũng không muốn ở lại. Ngài xuống thuyền trở về xứ Galilêa
    Bấy giờ một trong hai người bị quỷ nhập đã được khỏi không muốn bỏ Ngài. Nhưng biết anh còn thiếu nhiều điều kiện nữa, nên Ngài không cho và bảo rằng :
    --Con hãy về nhà kể lại cho mọi người nghe những việc Thiên Chúa thương làm cho con.
    Nghe Ngài dạy thế, anh ta mới chịu trở về. Rồi anh đi khắp miền Decapoli cao rao những ơn Chúa đã làm cho anh. Và dân chúng nghe đều lấy làm lạ. Nhờ vậy một số người trong xứ Giêrasêmô cũng tin theo Chúa nữa.
    Các Con Hãy Ði Truyền Ðạo...
    Chúa vẫn ở Caphanaum trụ sở Truyền giáo của Ngài, và tư thành đó, Ngài tìm hết cách mở rộng việc giảng đạo. Vì thế, hàng ngày Ngài đến các thành thị, các thôn trại và mọi ngã chung quanh biển hồ để giảng. Ðến đâu Ngài cũng tuyên bố Nước Trời đã gần, chữa người bệnh tật và an ủi những kẻ gặp hoạn nạn rủi ro. Ngài cảm thương đám dân theo
    Ngài, vì Ngài biết họ mệt nhọc, nhưng vẫn theo Ngài luôn. Ngài thương họ quá, vì Ngài nhận thấy họ giống như đàn chiên không người chăn, bơ vơ, khổ sở.
    Thực ra, trong đời sống tôn giáo và luân lý họ cũng có những người hướng dẫn, là giới Ðạo trưởng, nhóm Luật sĩ và Biệt Phái. Nhưng các ông này có thiết gì đến họ đâu. Các ông chỉ biết nói mà không làm, hay việc làm còn mâu thuẫn với lời nói nữa. Các ông chỉ cần học thuộc nhiều câu kinh kiệu đài các, trong các sách để phô diễn cho kêu vang chứ các ông không cần đưa ý nghĩa đích xác của những câu đó vào đời sống thực tại của dân chúng. Các ông giảng thuyết rất khô khan. Lời nói của các ông vang lên như hồi chiêng rồi im bặt, chứ không gây được ảnh hưởng. Thế mà các ông lại thích được dân gọi là “Tôn sư” hay bằng những danh hiệu có vẻ thông minh quan cách, cũng như các ông thích mặc áo có giải rộng và viền đẹp, thích được chào ở những chỗ công khai và ngồi trên trong các hội đồng. Nói tắt, các ông là những người chỉ có lý thuyết mà thiếu thực hành, chỉ biết ích kỷ và kiêu căng, giả nhân giả nghĩa cách khéo léo. Các ông đã đi ngược với nhiệm vụ của mình. Nên dân đã chán các ông lắm, nhưng cũng phải chịu vậy, chưa thể thoát được thế lực của các ông !
    Trái lại, dân thấy Chúa thực đáng mến, Ngài có một đời sống trong sạch, xả kỷ, thiết thực, bình dân. Ngài ăn mặc đơn sơ, đi chân, không dùng xe ngựa. Ngài giảng những lời dễ hiểu, những lời có mãnh lực lạ, làm người nghe cảm phục, phấn khởi và mừng vui.
    Lại thương yêu và nhân từ. Ngài chọn 12 người đơn sơ làm môn đệ giúp Ngài. Ngài chữa mọi bệnh tật và không ngại cho kẻ tội lỗi được tới gần Ngài. Trên đường truyền giáo, Ngài nhận cải thiện cả người thu thuế và những phụ nữ thiếu thanh danh. Ðó là đặc điểm ngược hẳn với lối giả dối của Biệt Phái, hạng người giả bộ coi phụ nữ như rắn độc, và không thèm đi đường hay nói chuyện với họ. ( Bên xứ Afghanistan, phụ nữ bị chế độ và chính quyền Teliban, coi rẻ rúng nhất. Và tước mất hết cả quyền lợi của người phụ nữ.)
    Do đời sống thánh thiện, bình dân và nhân từ ấy, Ngài đã kéo cả một đám đông theo Ngài, trong số đó có mấy bà rất tận tụy giúp việc truyền đạo, như các bà Joanna, Suzana
    Salome, Bà Joanna là phu nhân ông Chouza, một nhân viên cao cấp trong triều nhà vua Antipas. Ngoài ra lại còn bà vợ ông Giêbêđê với mấy bà mà Ngài đã chữa khỏi bệnh và bà Maria Madalena nữa. Các bà này không tiếc của tiếc công giúp Ngài.
    Nhưng dù tận tụy và hy sinh đến đâu, Ngài cũng không làm hết việc được và cũng không thể đi khắp nơi như Ngài muốn. Càng ngày dân đến càng đông và vẫn còn nhiều nơi nhỏ ngay trong Galilêa, Ngài không thể đến. Thế mà thời gian giảng đạo của Ngài có ba năm thôi. Nên một ngày kia, nhân lúc dân đến đông, Ngài ngỏ ý cách xa xa với đoàn môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt rất ít ! Vậy các con nghĩ sao ?...
    Các con hãy xin chủ ruộng sai thêm nhiều thợ gặt đến gặt cho Ngài.” Thế là vài hôm sau Ngài hội họp môn đệ lại, khuyên nhủ và sai các ông, từng hai người một, đi giảng các nơi. Ngài dặn bảo các ông rằng :
    --Ngày thầy sai các con đi, như chiên đi ở giữa sói rừng. Nên các con phải khôn ngoan như con rắn, nhưng cũng phải đơn sơ và chân thật như chim bồ câu. Các con cần phải được uy tín, nên Thầy ban cho các con quyền chữa mọi bệnh tật và trừ mọi quỷ ma.
    Hiện giờ chưa cần đi các miền dân ngoại và các thôn xóm của xứ Samaria, các con hãy đến với những chiên lạc của dân Israel đã. Các con hãy đi mọi nơi mọi ngả và hãy tuyên giảng thật to khẩu hiệu “Nước Chúa đã gần” Các con hãy chữa mọi bệnh nhân, hãy trừ quỷ, hãy cho người hủi được sạch và phục sinh cho kẻ chết nữa.
    Các con nhớ lời dặn tối hệ này : Các con phải triệt để vị tha. Vì thế, ơn các con đã được nhưng không, các con cũng hãy cho nhưng không. Là tông đồ của Nước Chúa, các con phải treo gương hãm mình và xả kỷ. Trên đường Truyền đạo, các con đưng lo dắt vào giây lưng hoặc vàng hoặc bạc hay thứ tiền gì để dự trữ. Các con cũng đừng mang bao, hay nhiều quần áo và giầy dép. Các con hãy lên đường đơn sơ, dù gậy cũng đừng cầm. Các con không phải lo đến đời sống và lương ăn, vì các con biết ; người thợ đáng được của ăn nuôi mình. Vậy điều cốt yếu là các con phải lo cho có thứ lửa thánh, ấy là phải hy sinh, xả kỷ và nhiệt liệt giảng đạo thôi.
    Thầy dặn các con : Khi vào một làng hay một thành nào, các con hãy tìm nơi liêm khiết mà trọ, và hãy ở đó cho đến khi đi làng khác. Các con hãy dùng những của ăn người ta dọn cho các con và đừng muốn được mời đi nhà này hay nhà nọ. Lúc đến nhà người ta, các con chào và chúc họ “Bằng an cho nhà này” Các con nhớ làm như thế, vì nếu nhà đó quả thực đáng lời chúc kia, thì hẳn sẽ được bình an như các con chúc ; bằng không đáng thì lời chúc của các con lại trở về với các con. Lại nữa, ở những nơi các con được người ta đón nhận, các con hãy nhớ chữa mọi bệnh nhân và hãy tuyên giảng cho người ta rằng:
    “Phải chuẩn bị, Nước Chúa đã gần” Trái lại nơi nào không muốn đón nhận các con, các con hãy bỏ nơi đó, đến chỗ công khai, phủi bụi khỏi giầy dép các con và nói cho dân ở đó rằng : “Dù một chút bụi dính vào giầy dép, chúng ta cũng khong thèm mang theo.”
    Tuy nhiên các con cũng giảng cho họ biết Nước Trời đã gần. Thầy nói để các con hay :
    “Ðến ngày chung thẩm, những làng hay những thành không đón nhận các con, sẽ bị phạt nặng hơn hai thành Sodoma và Gomorrha thuở trước.”
    Vậy các con hãy đi giảng mọi nơi, các con nhớ Thầy ủy đặc quyền cho các con. Nên ai đón nhận các con là đón nhận chính Thầy. Và ai đón nhận Thầy là đón nhận Ðấng đã sai Thầy. Cũng như ai nghe các con là nghe Thầy, và ai khinh các con là khinh Thầy, và ai khinh Thầy, đó là khinh chính Ðấng đã sai Thầy.
    Mệnh lệnh của Chúa dịu dàng đầy yêu thương, các môn đệ đều vui lòng bái nhận. Các ông chia nhau từng hai người một, sửa soạn lên đường Truyền giáo, các ông đi khắp mọi hướng và mọi ngả về xứ Galilêa. Ðâu đâu các ông cũng tuyên giảng Tin Mừng và thúc dục dân cải thiện đời sống. Các ông cũng trừ quỷ và xức dầu chữa bệnh nhân. Công việc của các ông rất kết quả.
    Mấy hôm sau các ông trở về trình lại Chúa những công việc các ông đã làm và những điều các ông đã nhân danh Ngài mà dạy. Ngài vui lắm, mừng khen các ông. Nhưng trong lúc đó có ông, như ông Gioan vì nhiệt thành hay vì cao hứng quá thưa với Chúa :
    --Thưa Thầy, chúng con thấy có kẻ dám lấy tên Thầy mà trừ quỷ. Nhưng kẻ ấy không thuộc đàon thể chúng con, nên chúng con đã cấm nó.
    Câu nói đó biểu thị lòng nhiệt thành, nhưng nó cũng ngầm chứa một tinh thần phân bì và ghen tỵ. Nên Chúa không chấp nhận và Ngài trả lời rằng :
    --Không ! Không được ! Từ rầy trở đi, các con đừng cấm ai làm như thế nữa. Các con phải bình tĩnh và thản nhiên, vì chẳng ai có thể lấy tên Thầy làm phép lạ và đồng thời lại phản nghịch với Thầy. Trái lại các con nên nhớ, ai không phản nghịch với chúng ta, tức là người ấy lợi cho chúng ta.
    Ý Chúa muốn nói : Sở dĩ người ta nhân danh Ngài mà làm được phép lạ, là vì người ta đã tin Ngài. Do vậy Chúa Cha mới ban cho người ta được quyền làm phép lạ. Người ta được quyền làm như thế, biết đâu một ngày kia chẳng có thể trở nên môn đệ Ngài. Vì thế có việc gì mà phải ghen. Chúa có nhiều việc, và có nhiều cách làm việc của Chúa.
    Vậy điều cốt yếu là phải tin theo Chúa và làm việc cho Ngài theo phạm vi của phận sự thôi.
    Phép Lạ Nhân Thừa...
    BÁNH VÀ CÁ.
    Sau khi các môn đệ từng hai người một đi rao giảng mọi nơi, uy danh Chúa càng lan rộng. Cả xứ Galilêa náo nức được thấy Ngài. Từ những làng nhỏ ở xa, như những làng ở gần Siđôn và Xêgiarê, người ta cũng lũ lượt kéo đến Caphanaum không ngớt, kéo đến để nghe Ngài. Nhưng dân đến càng đông, các môn đệ càng mệt. Mệt vì đi giảng xa mới về, lại mệt vì phải săn sóc giúp đỡ đám dân đến nghe Chúa giảng. Việc săn sóc đó, một ngày kia làm các môn đệ mất cả giờ ăn. Thấy thế, Chúa thương các ông lắm. Ngài muốn các ông nghỉ ngơi để lấy sức lại, nên Ngài bảo các ông :
    --Nào ta hãy tìm nơi tịch mịch và nghỉ ít lâu.
    Thế rồi cùng với đoàn môn đệ. Ngài xuống thuyền bỏ dân chúng lại, tiến nhanh ra khơi, nhưng dân chúng đã đoán biết Ngài sẽ đến đâu, vì thuyền Ngài hướng mũi về nẻo Bếtsai. Họ liền thi nhau chạy dọc theo bãi biển đến Bếtsai để đón. Vì thế khi Ngài cặp bến Bếtsai, thì ở đó dân đã đến đông từng nghìn rồi. Thấy dân mộ mến như thế, Ngài cam động không nỡ để họ chơ vơ. Quên cả mệt nhọc, Ngài lại bắt đầu giảng. Lần này Ngài giảng lâu và dân nghe Ngài không chán ; càng nghe họ càng khát lời Ngài và nghe một cách khoái trá không cảm thấy thời gian qua. Nhưng đoàn môn đệ nhận thấy Ngài nói đã lâu, ngày thì đã muộn và gió chiều đã dâng lên, nên các ông thưa Ngài rằng
    --Thưa Thầy, nơi đây hoang vắng và giờ đã muộn. Vậy xin Thầy cho dân về để họ vào các trại xóm chung quanh đây mà mua ăn.
    Ngài đáp :
    --Các con muốn bắt họ về ư ? Không ! Không cần họ phải về. Chính các con phải liệu cho họ có của ăn chứ ?
    Rồi Chúa quay về phía ông Phlippê, Ngài hỏi :
    --Con nghĩ xem có thể mua đâu được đủ bánh cho bằng này người không ?
    Hỏi thế để thử, chứ kỳ thực Ngài đã biết Ngài sẽ làm gì. Nhưng ông Philippê là một người đơn sơ và rất thực tế. Ông phóng mắt nhìn đám đông, đếm đốt ngón tay và thưa :
    --Thưa Thầy, giá có hai trăm đồng cũng không đủ mua cho mỗi người một mẫu bánh nhỏ.
    Ông muốn nói : “Thưa Thầy, nhưng lấy tiền đâu mà mua ?”
    Ngài lại hỏi :
    --Thế các con có số bánh nào không ?
    Các môn đệ quay nhìn nhau, hỏi nhau và sục sạo cả những bao đi đường, song không thấy qua một mẫu bánh. Nhưng ông Anrê, anh ông Phêrô đã trông thấy trong bọn thiếu niên kia có năm cái bánh đại mạch và hai con cá. Ngần đó thì chẳng thấm vào đâu với số người này ? Nhưng rồi ông cũng đến trình cho Chúa hay. Ngài liền dạy :
    --Thế hãy mang cả bánh và cá ấy lại đây.
    Vài phút sau bánh và cá đã mang đến. Chúa cầm lấy, và truyền cho môn đệ bảo dân chia nhau ngồi xuống từng đoàn. Ở đó có cỏ và cây xanh, các môn đệ thực hành mệnh lệnh, ông sắp đặt, ông hô cho dân ngồi xuống. Dân chúng vâng nghe theo, ngồi từng đoàn, đoàn một trăm, đoàn năm mươi, khiến đám đất nơi đó trộn lẫn sắc cỏ sắc hoa và sắc áo nhiều màu của dân, biến thành những mâm hoa xinh đẹp.
    Ðang khi ấy, Chúa ngửa mặt lên trời. Ngài lẩm nhẩm chúc lành trên của ăn, rồi trao bánh và cá cho môn đệ phát cho dân chúng. Các ông lãnh lấy thì lạ lùng thay ! Bánh và cá ra nhiều vô kể, các ông phải lấy thúng đựng và chuyển cho dân. Hết mọi người dân đều được ăn ngon, ăn thật no mà không hết.... Bấy giờ Ngài truyền cho môn đệ :
    --Bây giờ các con hãy thu lại những bánh và cá còn thừa.
    Các môn đệ lại lấy thúng đi thu, mỗi ông một thúng, mang về mười hai thúng đầy.
    Ðó là phép lạ Chúa nhân thừa bánh và cá để nuôi đám dân theo Ngài. Và số những người được ăn no hôm ấy, phỏng là năm ngàn người, ấy là chưa kể đàn bà, và con trẻ.
    Phép lạ trên đây. Chúa còn làm lại một lần nữa trên đất Galilêa. Số là lần kia, dân theo nghe Ngài giảng đã ba ngày mà không mang đủ của ăn. Bởi vậy Ngài thương dân quá, không nỡ để họ về lòng trống không, và kẻo lỡ họ bị đói lả dọc đường, vì nhiều người đến từ nơi xa lắm. Ngài hỏi các môn đệ có thể mua đâu được đủ của ăn cho dân không ? Ngài hỏi cũng để thử, nhưng các ông lại thưa như lần trước, là không thể mua được vì nơi ấy hoang vắng xa thành thị. Ngài hỏi nữa : “Thế các con có mấy cái bánh ?” Các môn đệ thưa có bảy chiếc bánh và mấy con cá nhỏ. Rồi đưa cả bánh và cá cho Ngài. Ngài nhận lấy, truyền cho dân ngồi xuống. Rồi cũng như lần trước, Ngài ngửa mặt lên Trời, chúc lành trên của ăn và trao cho môn đệ phát cho dân. Cũng lúc đó, phép lạ lần trước kia lặp lại, là dân ăn no mà còn dư được bảy thúng. Số người ăn hôm ấy cũng lên tới bốn ngàn, chưa kể phụ nữ và thiếu nhi.
    ***
    Nhưng chúng ta hãy trở về chuyện phép lạ hôm trước. Vậy bữa ăn vừa xong, khắp cả khu cỏ xanh náo động khác thường. Từ góc nọ sang góc kia nổi dậy những tiếng hoan hô bàn bạc, nhất là giữa đám thanh niên đông đúc. Trong những tiếng hoan hô bàn bạc đó, người ta có thể nghe rõ được mấy câu như : “Người đã làm được phép lạ như thế hẳn phải là siêu việt, là tiên tri, là cứu thế, cứu dân Israel...Hoan hô Chúa Cứu Thế...
    Chúa Cứu Thế muôn năm...Vậy dân Israel...Giờ đã điểm rồi, hãy đứng dậy tiêu diệt Hêrôđê và tụi Rôma.... Giêsu chính là Cứu Thế, chúng ta hãy tôn Ngài làm vua..” Không những thế họ còn giơ tay, reo hò và một người định nâng Chúa lên để tung hô Ngài làm vua nữa.
    Chúa biết thế, nhưng Ngài có cần được họ tôn làm vua đâu. Ngài đã là vua Trời Ðất từ muôn đời rồi. Vã nữa, Ngài xuống trần thế có phải để lập một vương triều theo nghĩa thế tục đâu. Vì thế, không thèm ưng nhận cảm tình cuồng nhiệt của họ. Ngài truyền cho môn đệ xuống thuyền chèo về nơi cũ. Nhưng các môn đệ đang say sưa trước cái kết quả sáng lạn và uy thế lạ lùng của Ngài, nghĩa là đang muốn Ngài được tôn vương để mình cùng được chung vinh hiển của một bậc đại thần, nên lúc đầu các ông không muốn xuống thuyền chèo đi. Thành ra Ngài phải nghiêm mặt hạ lệnh, các ông mới chịu nghe. Các ông uể oải xuông thuyền chèo về bến cũ, tức Caphanaum.
    Thuyền các ông lui ra, trời cũng tối mịt. Bây giờ Chúa đứng dậy giải thích cho dân...
    Ngài chậm rãi nói, để trời tối thêm nữa. Ngài nhấn mạnh về giờ đã muộn, và ai nấy cần phải về nhà..v..v..Rồi Ngài lẩn vào bóng tối, Ngài khéo lẩn không ai thấy được. Ngài tìm đường hẻm lên một núi cao, và ở đó Ngài được yên lặng cầu nguyện. Cầu nguyện giữa cảnh mông lung của trời đất và trong tình thân mật cùng Ðức Chúa Cha, Ngài cám ơn Ðức Chúa Cha về phép lạ Ngài đã làm hôm trước, để tượng trưng phép Thánh Thể Ngài sẽ lập.
    Ngài Ði Trên Mặt Biển...
    Chúa giảng xong và lên núi, thuyền các môn đệ đã ra khơi. Ra được vài ba cây số thì gặp gió ngược thổi mạnh, mặt hồ chuyển dữ. Các môn đệ hạ buồm chéo riết, nhưng không tiến được, thuyền cứ lênh đênh trôi dạt trên mặt biển trong đêm khuya. Các môn đệ mỏi mệt, sợ hãi, lại nhớ tiếc cảnh ăn bánh lạ buổi chiều hôm trước ở Bếtsai, nên các ông buồn chán.
    Trong lúc đó ở trên núi, Chúa biết các ông đang khổ cực lao đao, nên Ngài cũng thôi cầu nguyện, bỏ núi xuống biển cứu các ông.
    Bấy giờ vào khoảng ba giờ sáng. Ngài đi trên mặt biển như đi trên mặt đất lại chổ thuyền các ông đang bị quay lộn tứ phía. Nhưng các ông đã chèo lâu mỏi mệt, tinh thần bải hoải, nên vừa thấy chiếc bóng đi trên mặt nước, các ông đã tưởng ngay là ma và hoảng hốt kêu lớn tiếng “ma ! ma !..”Nhưng chiếc bóng đó chính là Chúa đã tới gần thuyền các ông và dừng bước hô trả lại :
    --Không ! Không ! Ta đây, đừng sợ hãy cậy trông.
    Ðã nhận ra được tiếng Chúa, các ông lại mừng và vững dạ yên tâm. Các ông vui quá, muốn mời Chúa lên thuyền. Nhưng hình như quên cả mọi sự, ông Phêrô lại cứ nói chuyện với Chúa hoài, rồi thay vì mời Chúa lên thuyền, ông còn xin Chúa cho ông đi trên mặt biển đến với Ngài nữa :
    --Lạy Thầy ! Nếu phải chính Thầy ! Thầy hãy cho con cũng đi trên mặt nước lại với Thầy.

    Chúa nói : “ Ðược ! Ta cho ! Con lại đây.
    Ông Phêrô tin tưởng mau chân trụt xuống khỏi thuyền lại với Chúa. Và lạ quá !..Mặt nước đã chắc lại như sân của nhà ông. Ông vui vẻ bước đi, trong khi các bạn ông nhìn không chớp mắt. Nhưng bỗng cơn gió ở đâu rít mạnh ở mũi thuyền ; Ông sợ và đột nhiên mặt nước lại lỏng ra. Ông bắt đầu thụt xuống và vội giơ tay kêu :
    --Lạy Chúa ! Chúa cứu con với !...
    Chúa đưa tay ra. Ông bám ngay lấy và lại đứng được thăng bằng. Ông mừng quá, mắt nhìn trừng trừng vào Chúa, nhưng bị Chúa mắng cho :
    --Hỡi người ít tin tưởng sao dám hồ nghi như vậy ?...Thôi, trở về thuyền ngay.
    Chúa và ông lên thuyền, sóng gió liền im lặng. Các môn đệ thấy thế, cảm phục và yêu Chúa hết sức. Các ông thảy đều đến phủ phục dưới chân Ngài và tôn xưng :
    “Lạy Thầy ! Thầy quả là Con Thiên Chúa.”
    Sau Một Bài Giảng Lạ...
    NHIỀU KẺ BỎ RA ÐI..
    Sáng hôm sau, thuyền các môn đệ tới miền Gênêsareth một cánh đồng phì nhiêu, hình lưỡi liềm nằm ở phía tây hồ Tibêrát. Từ đó đến Caphanaum không xa. Chúa và môn đệ Ngài cùng đi về trụ sở đó. Cũng sáng hôm ấy nhiều chiếc thuyền từ ngoài khơi tiến vào
    Caphanaum. Ðó là những thuyền chở một số người từ Bétsai, nơi cánh đồng cỏ xanh đã chứng kiến phép lạ hôm trước. Những người này ăn bánh lạ xong, ngủ ngay tại chỗ dưới trăng mờ, sáng sớm hôm sau thức dậy đi tìm Chúa. Họ tưởng thế nào cũng thấy Ngài, vì tối hôm trước chỉ có thuyền các môn đệ đi thôi, và rõ ràng Ngài không xuống thuyền đó.
    Nhưng lạ thật !...Tìm khắp mọi nơi mà không thấy. Sau cùng họ đoán chừng Ngài đã đi bộ về Caphanaum.. Ðồng thời họ thấy mấy thuyền ở ngoài khơi đi vào. Nên họ đáp những thuyền đó về Caphanaum, và quả thực họ đã khám phá ra Ngài ở đó. Vừa thấy Ngài, họ mừng, xúm quanh lại hỏi ngay :
    --Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ ?
    Chúa mỉm cười trước câu hỏi ngây thơ đó. Không trả lời được trực tiếp, Ngài mượn ngay dịp đó biểu tiết ẩn tình của họ và nói tới một việc vĩ đại Ngài sẽ làm sau :
    --Ta biết lắm. Các người tìm Ta không phải vì đã thấy những việc dị thường Ta làm, nhưng chính vì đã được no thỏa với những miếng bánh hôm qua. Nhưng hãy chú ý ; các người đừng hoài công tìm một của ăn hay hư, nhưng hãy tìm một thứ của ăn làm cho người ta sống mãi mãi. Của ăn đó chính Con Người sẽ ban cho, vì Ngài là người Ðức Chúa Cha đã ghi dấu riêng bằng một quyền lực làm phép lạ.
    Có người hỏi :
    --Nhưng phải làm gì để tìm ra thứ của ăn làm cho sống mãi đó ?
    Chúa trả lời :
    --Ðức Chúa Cha đã sai một sứ giả xuống thế. Vậy phải tin theo sứ giả của Ngài.
    Một tiếng kêu vang lên :
    --Nhưng Thầy phải làm một phép lạ gì đặc biệt để chúng tôi tin Thầy là thật sứ giả của Chú chứ ?...Xưa kia nhờ đại thánh Môi Sen, đang khi qua rừng, chúng tôi đã được ăn Manna, một thứ bánh từ trời rơi xuống trong bốn mươi năm. Ðó là việc ghi rất rõ trong Thánh Kinh. Thế mà Thầy mới cho chúng tôi được ăn một bữa hôm qua, thì có gì đặc biệt đáng sánh với thánh Môi Sen thuở trước ?
    Chúa nhấn mạnh vào tiếng “bánh từ trời rơi xuống.” :
    --A..Nhưng phải ý tứ nhận định, Ta bảo thật : Không phải ông Môi sen đã ban bánh từ trời xuống đâu. Người ban bánh từ trời xuống, đó chính là Cha Ta, và duy chỉ có Cha Ta thôi. Bánh đích thực là của Cha Ta đó là chính Ðấng từ trời xuống thế, xuống để mang sự sống xuống cho trần gian.
    Dân chúng chưa hiểu. Họ vẫn để ý về bữa bánh hôm trước ở Bétsai. Họ xin Chúa :
    --Thế, xin Thầy ban cho chúng tôi thứ bánh đó để ăn luôn.
    Nhưng Chúa không có ý nói về bánh vật chất, Ngài chủ ý nói ve thứ bánh thiêng liêng còn cần hơn bánh vật chất rất xa :
    --Bánh hằng sống ấy, đó là chính Ta. Ta bảo thật : Ai đến với Ta, người đó sẽ không đói nữa, cũng như ai tin Ta, người ấy sẽ hết khát. Tất cả những người Cha Ta đã ký thác nơi Ta, sẽ mạnh bạo đến với Ta chứ không còn dè dặt. Và đối lại, Ta sẽ bênh giữ không để ai hư đi, vì Ta xuống thế, không phải để theo ý riêng Ta, nhưng là để thực hiện ý muốn Ðấng đã sai Ta. Mà ý muốn của Cha Ta, là để Ta không hủy diệt một ai trong số những người Ngài đã phó thác cho Ta, cũng như ý muốn của Ngài là để ai tin theo Ta sẽ được sống muôn đời, và sẽ được Ta cho phục sinh trong ngày sau hết. Nhưng thương hại thay ! Các người đã thấy Ta, mà vẫn chưa tin Ta.
    Chúa nói tới đây thì từ góc này sang góc nọ, những tiếng rì rầm vang lên. Nhiều người tỏ ý bất bình vì họ đã nghe rõ Ngài nhấn mạnh “Ngài bởi Trời mà xuống” Họ thì thầm với nhau “Ngài bởi trời xuống thật ư ?” Thế Ngài không phải là Giêsu con ông Giuse là gì ? Hay Ngài tưởng chúng ta không biết cha mẹ của Ngài là ai sao ?!... Thế mà Ngài dám nói : “Ta đây bởi trời xuống thế gian.” Tuy nhiên họ chỉ rì rầm lẩm bẩm thôi, chưa dám phản đối công khai, vì họ còn nhớ phép lạ ngày hôm trước.
    Nhưng rồi cũng như đêm qua, trên mặt biển, Ngài khiến được gió lặng sóng yên. Ở đây,Ngài cất tiếng lên dân cũng im ngay tức khắc. Và Ngài ra oai lập lại điều đã nói :
    --Các người đừng có thì thào lẩm bẩm, Ta bảo thật : chăng ai có thể đến với Ta, nếu Cha Ta không kéo nó đến, nghĩa là không hướng dẫn nó đến với Ta, hợp với lời trong sách tiên tri rằng : “Chính Thiên Chúa sẽ hướng dẫn mọi chúng sinh.” Nói thế không phải ai cũng được thấy Ðức Chúa Cha đâu ? Không ! Chẳng ai được thấy Ðức Chúa Cha cả, chỉ trừ có một Ðấng đã bởi Ðức Chúa Cha mà ra thôi, chỉ có chính Ngài được thấy Ðức Chúa Cha rõ rệt. Vậy ai muốn nghe Ðức Chúa Cha và nhận lấy giáo lý của Ngài, người ấy hãy tin Ta, Ta bảo thật : “Ai tin Ta sẽ được sống muôn đời.”
    --Ta đây là bánh Hằng Sống, cha ông các ngươi đã ăn Manna trên rừng xanh, nhưng Manna không cứu khỏi chết. Còn bánh đây là bánh bởi trời, ai ăn bánh đó, sẽ không chết

    Mà bánh Hằng Sống đó, bánh bởi trời đó, lại là chính Ta. Vậy ai ăn bánh này sẽ sống mãi và bánh Ta ban đây, là chính thịt Ta, Ta ban thịt Ta để thế trần được sống..
    Ý nghĩa lời Chúa : Các người chỉ chú trọng vào bánh vật chất thôi, tầm thường quá, các người hãy đi xa hơn. Các người hãy tìm một thứ bánh thiêng liêng không hư mất, một thứ bánh cứu khỏi chết và sinh sự sống muôn đời. Xưa kia tổ phụ các người được ăn Manna, nhưng rồi cũng chết. Vậy các người hãy tìm một thứ bánh quý hơn Manna nữa. Thứ bánh đó, chính Ta đây đến giới thiệu và ban cho các người để các người được sống mãi. Thứ bánh đó là lòng tin Ta, tin vào sứ mạng của Ta. Ðích thực hơn nữa, thứ bánh đó là chính mình Ta, chính thịt của Ta. Ta ban thịt Ta cho các ngươi được sống. Ta là chính Ðấng Ðức Chúa Cha đã sai xuống thế, để cứu chuộc loài người. Loài người đã chết về phần hồn, vì đã phạm tội và sống xa Thiên Chúa. Vậy ai muốn được sống lại phần hồn, muốn được thứ tha và kết hợp với Thiên Chúa, người ấy phải kết hợp vơi vị trung gian của Thiên Chúa chính là Ta. Ta đây bởi trời xuống để thế gian được sống lại và sống mãi mãi, nhưng với điều kiện là thế gian phải tin theo Ta và ăn bánh có sự sống muôn đời, ấy là chính mình Ta chính thịt Ta.
    Lời Chúa thật rõ rệt. Ngài nói phải tin theo Ngài và ăn thịt Ngài tức là chịu lấy phép
    Thánh Thể, Ngài sẽ lập ra. Nhưng danh từ “Ăn thịt người” thực là khó nghe quá. Dân chưa hề nghe thấy ai nói lấy thịt mình mà nuôi người khác bao giờ. Nên vừa nghe danh từ đó, họ ngạc nhiên. Nhiều kẻ không phục, giơ tay tranh biện với số kẻ tín phục rằng :
    “Lẽ nào ông có thể lấy thịt mình cho người ta ăn ư ?” Nhưng Chúa không cải chính điều đã nói, mà Ngài còn quyết thêm rằng :
    --Ta bảo thật : Nếu các người không ăn thịt và uống máu của Con Người, các người không được sự sống Ngài mang lại cho. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, người ấy sẽ được sống muôn đời và được Ta cho phục sinh trong ngày sau hết. Thịt Ta thực là của ăn, máu Ta thực là của uống. Ai ăn thịt và uống máu Ta, người ấy ở trong Ta, Ta ở trong người ấy. Ðức Chúa Cha là nguồn mạch sự sống đã sai Ta và vì Ngài, Ta được sống thế nào, thì người ăn thịt Ta, cũng vì Ta mà được sống thể ấy... Ta đây là bánh bởi trời xuống. Xưa kia tổ phụ các người đã ăn Manna, mà phải chết. Nhưng ai ăn bánh này sẽ sống mãi mãi.
    Những lời Chúa nói thêm càng rõ rệt. Nhưng dân chúng lấy làm chướng tai khó nghe, cho là Ngài lập dị, hay là minh mẫn quá hóa điên. Nên nhiều kẻ bỏ Ngài. Ngay trong đám môn sinh của Ngài, nhiều người cũng bỏ Ngài đi và để lại một câu bất nhã : “Nói thô như vậy ai nghe được !” Nhưng tuy biết rõ thế, Ngài cũng không cần, Ngài càng tiến nữa và nói thêm :
    --Lời Ta làm các người chói tai khó chịu ư ? Thế nếu các người thấy Con Người lên nơi Ngài đã ở trước, các người sẽ nói làm sao ? Các người nên biết : Tinh thần làm cho sống, xác thịt không chí lợi gì. Nhưng lời Ta nói chất đầy sự sống và tinh thần. Vậy cũng phải hiểu cách thiêng liêng theo tinh thần, chứ đừng hiểu theo cách vật chất. Nhưng nhiều kẻ trong các người không hiểu theo tinh thần và không tin.
    Chúa nói thế, vì từ lâu Ngài đã biết có nhiều kẻ không tin lời Ngài giảng dạy. Họ chỉ theo Ngài vì lợi lộc và danh vọng thôi. Họ thấy Ngài có quyền lực lớn, nên họ theo giúp Ngài để mong một ngày kia, sau một cuộc cách mạng rực rỡ, họ sẽ chiếm địa vị cao. Trong số những người đó, Giuđa là một. Về Giuđa, Ngài biết lắm, sau này hắn sẽ phản bội, sẽ nộp Ngài cho đối phương. Vì thế, Ngài đã nói “Ta bảo thật ; chẳng ai có thể đến với Ta, nếu Cha Ta không kêu mời và thúc đẩy nó.”
    Sau bài giảng này, một số dân và nhiều người trong đám môn sinh của Ngài đã bỏ, không đi theo Ngài nữa. Cảnh buồn thay ! Thấy thế, Ngài quay hỏi 12 môn đệ rằng “
    --Thế các con có muốn bỏ đi không ?
    Ý Ngài nói ; Ðiều Ta đã quyết, Ta không trừu lại. Ta không muốn thêm và không muốn bớt. Vậy các con hãy định rõ thái độ. Các con muốn tin hay muốn bỏ đi như các người kia. Nhưng vẫn nồng nàn mến yêu và tín phục, ông Phêrô thưa thay các bạn :
    --Lạy Thầy ! Chúng con đi theo ai, vì chỉ Thầy có lời ban hằng sống. Chúng con tin và biết Thầy là sứ giả, là Con Thiên Chúa.
    Lúc ấy, Giuđa cũng có mặt ở đó, nếu biết tự trọng và thành thực, phải từ bỏ đoàn môn đệ ngay. Nhưng không, trong khi ông Phêrô nói, y đã khéo vờ giả bộ mặt trung thành..
    Chúa Giêsu quay nhìn cả 12 môn đệ từng người một. Cái nhìn làm khổ kẻ nội phản biết bao !...Ngài nhìn và nói giọng như khổ cực buồn bã :
    --Nào Thầy chẳng chọn 12 các con ư ? Nhưng tiếc thay ! Một người trong các con đã thành quỷ...
    Ðó là Ngài muốn nói về Giuđa Ítcacô. Chính hắn là một trong số 12 môn đệ, và chính hắn sau này đã nộp Ngài cách đê nhục cho đối phương.

    Một Bà Mẹ Kiên Tâm
    VÀ KHÉO ÐỐI ÐÁP....
    Sau khi ám chỉ về Giuđa sẽ phản bội, Chúa lên đường đi phương Bắc, đi mãi tới xứ Phênixia và Libanô đến tận hai thành Tirô và Siđôn thuộc miền duyên hải.
    Mục đích Chúa đến đây là cốt để tìm nơi thanh vắng huấn luyện các tông đồ, nhưng Ngài không đạt được ý nguyện vì thanh danh Ngài đã lan tràn khắp nơi. Nên Ngài đi đâu thiên hạ tìm đến đó. Ngài mới vào một làng nhỏ ở gần Tyrô, người ta đã lũ lượt kéo đến, trong số đó, có một bà quả phụ ngoại giáo là người Phênixia thuộc xứ Syria. Bà này có một đứa con gái nhỏ bị bệnh. Vừa nghe tin Chúa đến, bà đã đi phục lạy dưới chân Ngài và kêu xin thảm thiết :
    --Lạy Thầy ! Lạy con vua Ðavít, xin thương tôi. Con gái nhỏ của tôi bị quỷ nhập và khổ cực hết sức !

    Nhưng có lẽ con gái của bà không bị quỷ nhập. Cô chỉ bị một chứng bệnh thần kinh nặng thôi, đôi lúc thần kinh giật mạnh, làm cô co dúm cả mình và điên cuồng hoảng hốt. Tuy nhiên những người ngoại giáo và Do Thái vẫn tin bệnh đó là bệnh quỷ nhập.
    Do vậy bà ta đã hoảng sợ và đến nài xin Chúa chữa.
    Nhưng Chúa làm bộ như không nghe thấy và không đáp lại nửa lời. Chân Ngài vẫn đều đều bước, Ngài cố giả cách khước từ để có dịp phát biểu mực độ lòng tin của bà cho dân chúng thấy. Nhưng không hiểu ý Chúa và lại càng thương con, bà càng kêu to hơn. Bà theo sau kêu van mãi, giọng mỗi lúc mỗi thảm, làm các tông đồ sốt ruột khó chịu. Các ông lại gần Chúa và trình Ngài :
    --Xin Thầy thi ân và cho mụ ta về, kẻo mụ cứ theo sau kêu la mãi.
    Chúa đáp :
    --Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của dòng giống Israel thôi.
    Ý Ngài muốn dạy ; sứ mạng Ngài là cứu người Do Thái trước đã, rồi mới đến lượt dân ngoại. Nói xong, Ngài vào một nhà kia dường như để tránh mọi rầy rà và được yên tĩnh.
    Nhưng quả phụ cũng theo vào và lại bắt đầu năn nỉ :
    --Lạy Thầy ! Xin Thầy cứu lấy tôi.
    Chúa đáp lại khô khan :
    --Không ! Trước tiên phải liệu cho con cái no nê đã. Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho con chó.
    Lời Chúa quả nghiêm khắc. Nó khiến bà nhớ đến quan niệm của người Do Thái, trong thâm tâm của họ, họ vẫn coi những người dị giáo là lũ chó nằm ở chân bàn ! Tuy nhiên, bà không tức giận, vì bà vẫn tin Ngài là người nhân từ quảng độ, có nhiều quyền phép, và đã biết Ngài không ưa những quan niệm quá khích của Do Thái. Ðáng khác, bà hồ nghi hay Ngài muốn thử lòng tin của bà, nên bà khiêm tốn đáp lại :
    --Lạy Thầy ! Vâng. Chính thế ! Nhưng con chó ở gầm bàn cũng được ăn những miếng vụn của con cái ở trên bàn rơi xuống.
    Câu nói của bà quả là khéo léo, biểu lộ một sự khiêm nhường tột bực, khiến Chúa cảm động. Một vẻ hân hoan hiện trên nét mặt. Ngài phán với quả phụ :
    --Hỡi bà ! Ðức tin của bà rất mạnh, cho bà được như bà muốn. Bà hãy tin tưởng trở về Con của bà đã khỏi. Bà quả phụ vui mừng quá, bà cám ơn Chúa rồi trở về. Bà thấy con của bà đã khỏi, nằm bình tĩnh trên giường như không bị bệnh bao giờ hết.
    Hỡi Simôn...Con Thực Là Ðá.
    Một ngày kia, sau khi chữa một người mù, Chúa và các tông đồ đi ngược theo bờ sông Jordan lên mạn bắc đến thành Xêgiarê Philippê. Thành này ở dưới chân núi Hermon cao khoảng 2750 thước và nguyên trước gọi là Panêa, vì người La Mã đã xây ở đó một đền lộng lẫy hiến cho thần PAN. Thần này tượng trưng cho những bạo lực tự nhiên như sấm sét, bão táp, nên dân thành kính sợ lắm. Về sau ông Philippê làm Tổng trấn xứ Ituree, mở rộng tu bổ đẹp đẽ và đổi tên lại gọi là thành Xêgiarê ngụ ý để kính nhớ hoàng đế La Mã. Về sau nữa, dân lại gọi là Xêgiarê Philippê để kỷ niệm ông Philippê, người đã cải tạo và tu bổ.
    Thành này ở ngoài biên giới thánh địa, dân cư toàn là ngoại chủng. Thành xây trên một khoảng dư địa bên ngoài sông Jordan nơi có nhiều thác chảy. Nhà cửa trong thành đồ sộ quy mô hùng tráng, hiên ngang nằm trên những mõm đá vững vàng, những mõm đá coi như bất diệt trong thiên nhiên, làm Chúa nghĩ tới ngôi nhà Giáo Hội Ngài đang xây đắp và nghĩ tới con người Ngài sẽ chọn làm nền móng cho ngôi nhà kia. Bởi vậy lúc gần tới thành, Ngài để các tông đồ ở lại và rẽ vào một vườn thanh vắng để cầu nguyện với Ðức Chúa Cha. Ngài đã quyen cầu nguyện như thế mỗi khi phải mưu toan một đại sự. Cầu nguyện giờ lâu, Ngài trở lại với các tông đồ ; con mắt của Ngài như đang theo dõi một chân trời xa. Rồi trong giữa cảnh nghiêm trang lặng lẽ ở ngoại ô thành, và cũng trong lúc khuất mặt bọn địch thù, sau mấy câu chuyện đầy thân mật, Ngài cất tiếng hỏi các tông đồ rằng :
    --Các con, người ta dư luận về thầy thế nào ? Người ta nói Con Người là ai ?
    Bấy giờ các tông đồ, mỗi ông đem trình bày một dư luận. Ông này nói : “Người ta bảo Thầy là Gioan Tẩy Giả phục sinh” Ông kia nói : “Thưa Thầy, người ta bảo Thầy là Êlia đã hồi trần” Ông khác cãi lại : “Bẩm Thầy, họ bảo Thầy là Jêrêmia” Mấy ông khác nữa tranh nhau nói : “Trình Thầy, họ đồn thổi Thầy là một vị tiên tri”
    Chúa hỏi tiếp :
    --Thế chính các con, các con bảo Thầy là ai ?
    Câu hỏi của Chúa đơn sơ, nhưng trả lời cho đúng, thực khó quá. Các tông đồ quay nhìn nhau và cùng ngẫm nghĩ...Nhưng với một niềm tin tưởng sẵn có và rất vững, ông Phêrô mau mắn đáp lại :
    --Thưa Thầy ! Thầy thật là Ðấng KiTô, Con Ðức Chúa Trời hằng sống.
    Câu trả lời của ông Phêrô cũng đơn sơ, nhưng mà ý nghĩa thật vĩ đại. Nó biểu lộ Chúa là Vua Hòa Bình, là Mặt Trời Công Chính, là sứ giả của Chúa Trời, một sứ giả các tiên tri đã báo trước sẽ xuất hiện mang lại cho thế gian ơn giải phóng siêu nhiên. Bởi vậy, không những ông đã được Chúa khen, mà còn được Ngài đặt làm nền tảng và thủ lĩnh Giáo Hội nữa. Chúa âu yếm nhìn và phán với ông Phêrô :
    --Hỡi Simôn con ông Giona, con có phúc, vì không phải xác thịt hay dòng máu, nhưng là chính Cha Ta ở trên trời đã mạc khải cho con điều con mới nói. Vậy Thầy bảo con :

    “Con thực là Phêrô nghĩa là Ðá. Thầy sẽ kiến tạo Giáo Hội Thầy trên Ðá này. Và mọi quyền lực của hỏa ngục không lấn được Giáo Hội ấy. Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời. Sự gì con cầm buộc ở dưới đất, ở trên trời cũng cầm buộc như vậy, cũng như điều con cởi mở dưới đất, ở trên trời cũng cởi mở như vậy.
    Theo lời Chúa phán trên đây, quả Ngài đã đặt ông Phêrô là thủ lãnh Giáo Hội, một Giáo Hội vĩnh cửu, bất chấp mọi giông tố của thời đại, mọi mưu mô của loài người và mọi phản lực của ma quỷ. Trong Giáo Hội đó, ông Phêrô có quyền tha và không tha, có quyền buộc và tháo cởi. Hay nói kiểu các luật gia, ông Phêrô có toàn quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp.
    Tất cả những đặc quyền đó là để thưởng lòng tin tưởng của Phêrô. Tuy nhiên những quyền đó còn được dấu kín và chỉ được thi hành dần dần, vì Chúa chưa khải hoàn vinh quang và Giáo Hội của Ngài mới vào thời kỳ sơ khởi. Bởi vậy, trao quyền cho Phêrô xong, Chúa lại dạy các tông đồ không được nói cho ai hay, nhưng phải giữ kín kẻo công việc của Ngài gặp trở ngại.
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *

Chia sẻ trang này